Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của Nhà thơ Quang Dũng đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của Nhà thơ Quang Dũng

Bài làm

Hình ảnh người lính trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà văn, nhà thơ lãng mạn và hiện thực. Trong đó không thể không nhắc tới bài thơ Tây Tiến, một bài thơ có sự kết hợp giữa tinh thần bi tráng và nét lãng mạn của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tây Tiến là một đơn vị hoạt động ở địa bàn vùng biên giới Việt – Lào. Nhiệm vụ của đoàn quân là phối hợp với quân đội Lào để bảo vệ vùng biên giới và Thượng Lào. Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến gia nhập vào năm 1947 và sau đó một năm Quang Dũng chuyển đơn vị công tác. Năm 1948 tại Phù Lưu Tranh khi nhớ về Tây Tiến nhà thơ đã viết bài thơ này. Bài thơ ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến sau đó được lược bỏ và chỉ còn mang tên đoàn quân nhưng vẫn gợi mở được ký ức về nỗi nhớ một thời oanh liệt bởi xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ dạt dào với biết bao cảm xúc.

Ngay mở đầu của bài thơ tác giả đã gợi nhớ về núi rừng nơi đoàn quân Tây Tiến từng hoạt động:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Hình ảnh sông Mã, một tượng đài kỳ vĩ của núi rừng miền Tây Bắc nước ta. Qua đó cũng nói lên tình cảnh của nhà thơ khi xa Tây Tiến và nhớ về những kỷ niệm đã từng gắn bó. Đó là nỗi nhớ về rừng núi, một nỗi nhớ được gợi tả bằng cụm từ “nhớ chơi vơi”. Một nỗi nhớ dường như không có hình thù, định lượng cụ thể nhưng lại dường như thấy được chiều sâu, sự mênh mang của nỗi nhớ. Trong nỗi nhớ ấy là những hình ảnh thiên nhiên, những địa danh quen thuộc của thiên nhiên Tây Bắc đó là: Sài Khao, Mường Lát.

Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của Nhà thơ Quang Dũng đạt điểm cao

Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến

Bốn câu thơ tiếp theo tác giả đã khắc họa làm nổi bật lên thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc:

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Có thể nói đoàn quân Tây Tiến đã chịu rất nhiều khó khăn gian khổ mà đầu tiên phải nói đến địa hình núi rừng nơi đoàn binh hành quân qua. Với kết cấu và nhịp 4/3 tạo nên sự gấp khúc của hình ảnh thơ. Đó chính là những đèo, những dốc mà những người lính phải vượt qua. Đó không phải dốc bình thường mà qua cách gợi tả của nhà thơ ta như thấy được sự dựng đứng của dốc núi và cả độ cao nơi họ đi qua. Chính vì ở vị trí cao nên mới có cảm giác nhìn thấy cồn mây ở ngay tầm mắt và “súng ngửi trời”. Người lính như đang đi trên cồn mây và mũi súng khoác sau lưng như đang chạm tới bầu trời vậy. Đến câu thơ thứ ba của khổ thì ta thấy được địa hình nơi đây như có sự đổ ập xuống thẳng đứng. Khi nhìn lên thì thấy như chạm với đỉnh trời mà khi nhìn xuống thì sâu thăm thẳm, hun hút. Qua đoạn thơ ta có thể hình dung được cảnh những người lính hành quân trong một không gian mịt mù sương khói và tại một địa thế cao khiến cho những ngôi nhà trong tầm mắt của họ như đang bồng bềnh giữa một biển khơi sương. Có thể thấy được đó chính là vẻ đẹp của sự khúc khuỷu, gập ghềnh. Cho đến hai câu tiếp thì một vẻ đẹp hoang dại, dữ dội khác được nhà thơ khai thác:

Loading...

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Khung cảnh không chỉ được mở rộng ở không gian mà còn được khám phá ở góc độ thời gian. Trong những khoảng thời gian đó núi rừng miền Tây còn được hiện lên với thác gầm, cọp dữ. Đó là những mói nguy hiểm luôn rình rập đến tính mạng của người lính. Thế rồi đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Tiếp tục là nỗi nhớ trải dài trong cả bài thơ. Vượt qua những khó khăn thử thách đó chính là nỗi nhớ về những gì thân thương, đầm ấm mà người dân nơi đây dành cho những người lính. Trên con đường hành quân dài, sau bao nhiêu gian khổ thì họ được dừng chân bên một bản làng nào đó và được trao cho những nắm cơm nếp xôi thơm phức, thấy những căn bếp có khói lửa lảng vảng trong không gian. Có thể nói đó là vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng và duyên dáng của miền Tây. Từ đó cho thấy một hồn thơ lãng mạn giữa cảnh vật và con người nơi xứ lạ. Nơi đó vừa có nét gân guốc lại vừa thơ mộng:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Không chỉ nhớ về thiên nhiên núi rừng miền Tây mà tác giả còn gợi về những gì mênh mang, mở ảo, không rõ ràng:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Không gian là một dòng dông vào buổi chiều sương man mác. Một dòng sông hoang dại, với hai bên bờ là những dặng lau cao. Ấy rồi trên cái nền hùng vĩ, mộng ảo đó là những gương mặt của người lính Tây Tiến mà Quang Dũng đã khắc họa rất độc đáo:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Hình ảnh người lính với những nét tiêu biểu đó là: không mọc tóc, quân xanh. Chắc hẳn chúng ta cũng biết rằng tại nơi rừng thiêng, nước độc thì căn bệnh sốt rét rừng trở nên quen thuộc với những người đi rừng hay những người lính. Họ sống và chiến đấu trong hoàn cảnh thiếu thốn và không tránh khỏi mắc phải căn bệnh này mà không kịp thời chữa trị nên tóc rụng hết và nước da thì xanh xao. Nhưng trong con mắt của nhà thơ cũng như những người đồng đội của mình thì đó là chuyện bình thường, lấy ra để nói chuyện vui, hay màu xanh của da giống như lớp ngụy trang, đem lại vẻ đẹp dữ dằn, gân guốc cho đoàn quân.

Đa số những người lính trong đoàn quân Tây Tiến đều là những thanh niên Hà thành. Họ rời xa quê hương, mái trường để chiến đấu và tại đó gửi lại những giấc mộng về quê hương, lấy những điều đó làm động lực để sống và chiến đấu. Trong chiếc đấu thì không tránh khỏi những hy sinh, mất mát và nhà thơ Quang Dũng cũng không hề che giấu những mất mát đó. Hai khổ thơ cuối đã nói lên điều đó:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Dù biết ra đi thì có thể không bao giờ trở về được nhưng họ vẫn quyết một lòng lên đường. Cụm từ “chẳng tiếc đời xanh” đã khắc họa rõ ràng tâm thế của những người lính khi rời xa quê hương. Các anh ngã xuống đến manh chiếu cũng không có nhưng trong con mắt của nhà thơ thì manh áo bọc những đồng đội ngã xuống giống như tấm áo bào của những vị tướng trên sa trường thời xưa. Thêm vào đó là bản nhạc hào hùng của thiên nhiên, núi rừng với đại diện là sông Mã để tiễn đưa những người con của Tổ quốc trở về với đất mẹ.

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đã đem đến cho thế hệ ngày nay và mai sau hiểu được một thời oanh liệt của những vị anh hùng của dân tộc. Thấy được những hình ảnh gân guốc nhưng lại mang theo nét lãng mạn của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Loan Trương