Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ của Tú Xương đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương

Bài làm

Trong Văn học Trung đại, các nhà thơ, nhà văn thường tập chung vào vấn đề thế sự hoặc những đề tài mang tính xã hội, chung chung. Viết về vợ, ở thời điểm đó là rất hiếm. Thế mà nhà thơ Tế Hanh đã có nhiều sáng tác về người vợ mà ông yêu thương. Bài thơ “Thương vợ” đã nói lên được hết tình cảm và sự trân trọng của ông dành cho vợ.

Tám câu thơ, tuy không dài nhưng đã nói lên được tất cả tình cảm  mà ông muốn gửi cho vợ. Mở đầu bài thơ, là một lời giới thiệu về công việc cũng như hoàn cảnh của người vợ mà ông vẫn luôn trân trọng.

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng

Hai chữ “Quanh năm” đã nói lên nỗi vất vả của bà Tú. Công việc của bà là buôn bán nhỏ ở “mom sông”, một bãi đất nhô ra, chênh vênh, không chắc chắn. Bà làm việc quanh năm không có lấy một ngày nghỉ. Công việc ấy cứ tiếp nối, ngày này qua ngày kia, tuần hoàn như một thói quen chẳng bao giờ có thể từ bỏ. Ngày nào cũng như ngày nào, bà Tú vất vả với công việc của mình mà không được nghỉ ngơi. 

Công việc vất vả cũng chỉ vì “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Nuôi năm đứa con là một điều dễ hiểu nhưng bà Tú lại phải nuôi thêm “một chồng”. Chữ “một” không nhằm để chỉ số lượng mà nó như muốn nhấn mạnh sự “nghịch lý” khiến nhiều người phải bất ngờ. Tại sao, ông Tú lại không nuôi vợ mà để vợ phải nuôi mình. Qua đó còn nói lên sự vất vả của bà Tú. Nuôi năm đứa con đã khó lại còn nuôi cả chồng, bao gánh nặng đều đè lên đôi vai của người đàn bà.

Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ của Tú Xương đạt điểm cao

Cảm nhận về bài thơ Thương vợ

Nỗi cơ cực của người vợ được thể hiện rõ hơn qua hai câu thơ tiếp theo.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

“Vắng” và “đông” là hai từ hoàn toàn trái nghĩa với nhau. Thế nhưng, hai câu thơ lại không hề đối ngược, ngược lại nó còn giúp lột tả được hết nỗi vất vả, gian truân của bà Tú. Ở đây, tác giả đã dùng hình ảnh “thân cò” để ví von với hình ảnh của người vợ. Cò lặn lội nơi đồng hoang, lầm lũi một mình cũng giống như bà Tú, miệt mài làm lụng nơi ruộng đồng mà chẳng một ai bên cạnh. Cực nhọc, quạnh hiu nhưng vì cuộc sống gia đình, vì gánh nặng cơm áo gạo tiền, bà vẫn không quản gió sương. Rồi ở nơi mom sông đông đúc những gánh hàng, những con buôn, bà phải giành giật để lấy hàng. Cuộc sống cơ cực, bon chen đã nói lên sự chịu thương chịu khó, không ngại hy sinh vì chồng vì con của bà Tú. Một phẩm chất đáng quý của một người vợ, một người mẹ đáng tự hào.

Loading...

Sau bốn câu thơ miêu tả công việc của vợ, Tú Xương lại hết lời ngợi ca về phẩm chất quý giá của bà Tú.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận
Năm nắng, mười mưa dám quản công

Câu thơ sử dụng những con số cụ thể để làm nổi bật những vất vả, lo toan của bà Tú. “Một”, “hai”, “năm”, “mười”, mức độ cứ thế tăng dần như chính những gian truân mà người vợ hiền phải gánh vác. Nắng mưa, bão gió, dù thời tiết có khắc nghiệt đến đâu bà vẫn một thân một mình lặn lội nơi đồng ruộng hoang vu hay bon chen chốn chợ búa đông đúc để giành giật lấy từng đồng bạc lo cho miếng cơm, manh áo của chồng của con. Những nỗi vất vả, cực nhọc ấy bà chưa một lần kêu than mà chấp nhận như đó là những gì ông trời đã giao phó cho bà. Cuộc sống vất vả cùng đều do phận mình như vậy nên bà lầm lũi vượt qua tất cả. Đó là đức hy sinh lớn lao của bà Tú cũng như những người vợ, người phụ nữ nói chung. Họ không ngại vất vả mà luôn mong muốn chồng con có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thương vợ ba nhiêu, Tú Xương lại thấy mình đáng trách bấy nhiêu.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không

Có thể thấy, lòng thương vợ của ông Tú lớn đến nhường nào. Cũng chính vì thế, ông có thể buông ra câu chửi rủa trời đất. Những bất công mà bà phải chịu đựng chẳng phải là sự bạc bẽo của thói đời hay sao. Người phụ nữ chân yếu tay mềm đáng nhẽ ra phải được yêu thương, bao bọc và che chở nhưng với bà Tú lại ngược lại. Bà đã không được hưởng một cuộc sống an nhàn mà còn phải chịu gấp nhiều lần những vất vả, lo toan. Bà lo cho năm đứa con, lo cho người chồng chỉ biết đèn sách nhưng lại chưa một lần đỗ đạt. Đôi vai bà, đã gánh vác biết bao cực nhọc mà đáng ra bà không phải làm những việc ấy. Sự bạc bẽo của cuộc đời khiến bà Tú phải vất vả như vậy hay chính do sự bạc bẽo mà người chồng mang lại.

Tú Xương chửi “cha mẹ thói đời ăn ở bạc” nhưng đằng sau đó nhà thơ đang muốn chửi chính bản thân mình. Một người chồng, người trụ cột trong gia đình đáng nhẽ ra phải lo toan mọi công việc lớn bé, nhưng ông lại không làm được. Đã không chia sẻ cùng vợ những nhọc nhằn, ông còn đè nặng lên vai vợ khi tiền đèn sách tốn khá nhiều mà ông lại chẳng làm ra được đồng tiền. Ông tự trách mình vô dụng, vô tâm khi không lo nổi cho vợ, cho con. Trách thói đời ít mà trách bản thân thì nhiều. Có người chồng như ông Tú thật sự có cũng như không, thậm chí thà không có còn hơn để đỡ phải vất vả như thế này.

Nhà thơ Tú Xương luôn dành cho vợ mình những vần thơ thật đẹp. Tuy ông chưa giúp được vợ nhưng tình thương vợ trong ông thật lớn. Nó không chỉ là tình cảm trong lòng mà ông còn dám bộc lộ qua những vần thơ. Để rồi, ở bất cứ đâu, hình ảnh bà Tú vất vả lo toan cho chồng cho con vẫn luôn hiện hữu. Ông ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của vợ, thấy có lỗi và luôn biết ơn người vợ tuyệt vời vẫn luôn luôn bên cạnh ông.