Phân tích bài thơ Ánh trăng của tác giả Nguyễn Duy đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Ánh trăng của tác giả Nguyễn Duy

Bài làm

Là một trong những nhà thơ thành công nhất của nền văn học hiện đại nước nhà nước nhà, Nguyễn Duy luôn đem đến cho thơ ca Việt Nam một làn gió vừa quen thuộc lại vừa mới lạ trong những tác phẩm của mình. Nổi bật nhất trong số đó chắc hẳn phải kể đến “Ánh trăng”, thi phẩm hướng đến một đề tài không mới nhưng lại gắn với một câu chuyện mang tính thời đại mà thông điệp rút ra từ nó cho đến tận bây giờ vẫn luôn được quan tâm: đừng bội bạc, hãy sống ân tình, thủy chung.

Nằm trong tập thơ cùng tên của nhà thơ Nguyễn Duy, “Ánh trăng” ra đời năm 1978, tức ba năm sau ngày đất nước bước ra từ chiến tranh, người dân bắt đầu xây dựng lại một cuộc sống ấm no, sung túc hơn. Trong hoàn cảnh như thế, ở hai khổ thơ đầu, tác giả lại dẫn dắt người đọc trở về quá khứ, tuổi thơ, những ngày tháng khó khăn, thiếu thốn khi mà cuộc sống còn chưa có những cơ sở vật chất, trang thiết bị tân tiến như hiện tại. Hai khổ thơ đặt trong toàn bộ bài thơ tưởng chừng như vô lý nhưng hóa ra lại được đặt rất đúng chỗ, như một lời dẫn dắt mộc mạc, tâm tình mà sâu sắc, dẫn người đọc, người nghe về cuộc sống thiếu thốn mà tình nghĩa trước kia:

Hồi nhỏ sống ở đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa

Hai khổ thơ có mối gắn kết mật thiết với nhau khi đều là những hồi ức về một quá khứ con người sống gần gũi, trân trọng và tin tưởng lẫn nhau. Từ khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã gợi lại một quãng thời gian dài từ khi còn là một cậu bé thơ dại đến khi thành một người lính chiến đấu anh dũng, can đảm. Theo bước chân của con người, những không gian cứ mở rộng dần, ban đầu là cánh đồng tuổi thơ, xa hơn là sông sâu, biển lớn. Chiến tranh nổ ra, chàng trai khoác áo lính gắn bó với những cánh rừng đại ngàn. Những trải nghiệm đầy khó khăn, gian khổ đã giúp nhà thơ nhận ra “vầng trăng thành tri kỷ”. Không phải là những cảm giác ngẫu hứng nhất thời của một người đã quen có ánh trăng ở bên, điều khẳng định này đã được kiểm chứng qua những vui, buồn, thậm chí là những phút giây sinh tử ngàn cân treo sợi tóc. Là một nhà thơ hiện đại nhưng Nguyễn Du lại dùng một từ Hán- Việt như “tri kỷ” để “gọi tên” mối quan hệ giữa người lính và trăng, phải chăng điều này là vô lý? Có thể khẳng định, Nguyễn Duy dùng như vậy là có dụng ý nghệ thuật của riêng mình. Chính bởi đó là từ Hán- Việt nên sự gắn bó, tình cảm giữa người và trăng càng trở nên thiêng liêng, như những người hiểu bạn như hiểu chính mình. Vì sao người và trăng lại có tình tri kỷ đẹp đến thế, hai câu thơ đầu của khổ thơ thứ hai đã giải đáp cho ta thắc mắc đó. Hai tính từ đứng đầu mỗi câu thơ được tác giả khéo léo sử dụng đã biểu đạt được hoàn toàn sức gợi cảm của nó. Biện pháp tu từ so sánh “hồn nhiên như cây cỏ” cùng với hai tính từ trên đã thành công gợi nên những hình ảnh hết sức sống động, nhắc cho người ta nhớ về một quá khứ con người đã từng sống một cách cởi mở, chân tình như thế. Không toan tính, không lọc lừa, trăng với người, con người với thiên nhiên, người lính với đồng bào, đồng đội,… tất cả đều sống chan hòa, vui vẻ, chẳng cần che chắn, đề phòng. Nhìn lại quá khứ và hiện tại, nhà thơ đã rất tin tưởng vào một tương lai “ngỡ không bao giờ quên/ cái vầng trăng tình nghĩa”. Một lần nữa, với việc đưa từ Hán- Việt “tình nghĩa” vào câu thơ, Nguyễn Duy đã khiến ta hoàn toàn tin vào tình cảm, đạo lý thiêng liêng ấy.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của tác giả Nguyễn Duy đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Ánh trăng

Chiến tranh qua đi, con người lại trở về với cuộc sống thời bình nơi thành phố tiện nghi, hiện đại:

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương

với thứ ánh sáng nhân tạo chói lòa mà dần quên đi ánh sáng tự nhiên từ vầng trăng đã từng gắn bó với con người suốt bao lâu nay. Cũng bởi vậy mà tình cảm con người dành cho trăng cũng thay đổi- không còn gần gũi, gắn bó như khi xưa nữa, thay vào đó, nhà thơ coi trăng như người xa lạ- không hề quen biết. Khi cuộc sống thay đổi, con người có quyền thay đổi theo, có thể theo chiều hướng tích cực hoặc thậm chí là tiêu cực. Nhưng, dù thế nào, ta cũng tuyệt đối không được quay lưng lại với quá khứ bởi “Nếu ta bắn vào quá khứ bằng một khẩu súng lục thì tương lai sẽ bắn ta bằng đại bác”. Nhân vật trữ tình trong tác phẩm dù đã trải qua tuổi thơ và cả thời tuổi trẻ chìm trong bom đạn chiến tranh với vầng trăng là người bạn tri kỷ, đã từng cho rằng mình sẽ không bao giờ quên được “cái vầng trăng tình nghĩa” ấy thì giờ lại hoàn toàn quay lưng lại với quá khứ:

vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường

Loading...

Thật tàn nhẫn và vô tình! Theo lẽ thông thường, nếu một người đối xử tệ bạc bới ta thì ta cũng sẽ chẳng có lí do gì để đối xử tốt với họ, đó luôn là suy nghĩ ích kỷ của phần đông con người chúng ta. Nhưng trái ngược hoàn toàn với suy nghĩ ấy, trăng vẫn luôn thủy chung với nhà thơ. Trăng “đi qua ngõ” để chiếu sáng nhân gian nhưng dường như cũng để tìm kiểm người bạn “tri kỷ” năm xưa, để cả hai được hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trăng không hề thay đổi, trăng tình nghĩa, thủy chung là thế mà con người thì lại hoàn toàn quay lưng lại với quá khứ. Như sự sắp đặt của định mệnh, một tình huống bất ngờ xảy ra, để con người nhận ra lỗi lầm của mình:

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn- đinh tối om

Vốn quen với ánh sáng nhân tạo chói lòa nên ngay khi đột ngột mất điện, căn phòng chìm trong bóng tối thì con người

vội bật tung cửa sổ

để tìm một nguồn sáng. Chính hành động này của nhà thơ đã tạo nên bước ngoặt cho sự việc khi:

đột ngột vầng trăng tròn

Trăng xuất hiện, bất ngờ và đột ngột khi đèn tắt. Việc đảo trật tự từ của câu thơ đã nhấn mạnh vào sự xuất hiện bất ngờ của trăng. Nhờ có sự xuất hiện ấy mà người và trăng mới có được cuộc hội ngộ sau bao năm xa cách, để nhà thơ có thể bộc lộ cảm xúc với trăng- người bạn “tri kỷ” năm xưa. Trăng “tròn” không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên mà còn là quá khứ vẹn nguyên, tròn đầy, là một thời gắn bó với người và trăng.

Gặp lại trăng- người bạn tri kỷ sau bao năm xa cách, nhà thơ đã có những cảm xúc đặc biệt mà có lẽ sẽ chẳng còn cơ hội thứ hai để trải nghiệm trong cuộc đời. Tuy nhiên, không giống với hầu hết các cuộc hội ngộ được sắp xếp từ trước, trong thơ của Nguyễn Duy, trăng và người gặp lại nhau một cách vô cùng bất ngờ, trong hoàn cảnh không hề được báo trước. Con người hay người lính sau khi chiến tranh kết thúc lại trở về với cuộc sống thường ngày, với những tiện nghi hiện đại, với thứ ánh sáng nhân tạo chói lòa, thì sẽ rất dễ quên đi quá khứ với ánh trăng sáng làm bạn. Cũng bởi vậy mà con người, giữa cái ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống tấp nập, bận rộn ở thành phố đã coi trăng “như người dưng qua đường”. Vô tình, bội bạc! Vậy mà, trăng vẫn thủy chung, vẫn tình nghĩa chẳng hề thay đổi, chính điều này khiến con người bất ngờ hơn cả. Con người giờ trở nên thật nhỏ bé khi vô tình, bội bạc, quay lưng lại hoàn toàn với quá khứ; trước vầng trăng tròn đầy, thủy chung. Con người hướng cái nhìn lên phía trên, nơi có vầng trăng sáng “tình nghĩa”, với tất cả sự thành kính:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Ở tư thế này, con người và trăng đang đối diện đàm tâm, ta hiểu được điều này nhờ sự thành công trong việc sử dụng từ đa nghĩa “mặt” của Nguyễn Duy. “Mặt” không đơn thuần chỉ được hiểu theo nghĩa gốc là khuôn mặt con người như từ “mặt” đầu tiên mà theo phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, nó còn chỉ mặt trăng. Đối diện với trăng, trong sự xúc động, nghẹn ngào được độc giả cảm nhận qua từ láy “rưng rưng”, nhà thơ gặp lại quá khứ của chính mình, của “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh” để rồi lại day dứt, ân hận vì đã có lúc bội bạc, vô tình với quá khứ:

có cái gì rưng rưng

Để tạo sự liền mạch trong dòng cảm xúc và cũng là để gợi nhắc lại quá khứ “tình nghĩa” với trăng, Nguyễn Duy đã lặp lại các hình ảnh đồng, sông, bể, rừng trong khổ thơ thứ năm này:

như là đồng là bể
như là sông là rừng

Sự lặp lại đầy ẩn ý này của tác giả như một lời khẳng định, nếu quên đi quá khứ, con người sẽ chẳng bao giờ có thể sống ở hiện tại và vững bước vào tương lai. Vầng trăng trong khổ thơ này cũng chính là điểm xuất phát khơi gợi nên những suy ngẫm về trăng của tác giả trong khổ thơ tiếp theo, cũng là khổ thơ khép lại toàn bộ thi phẩm. Cụm tính từ “cứ tròn vành vạnh” đã giúp nhà thơ khẳng định rằng cho dù con người có đổi thay, có vô tình thì trăng vẫn luôn một lòng, luôn thủy chung.

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình

Con người càng trở nên nổi bật hơn với sự vô tình, bội bạc của mình khi được đặt vào những mối quan hệ đối lập giữa người và trăng: con người vô tình, bội bạc- trăng vẫn thủy chung; con người đổi thay- trăng vẫn chẳng hề thay đổi; trăng luôn tròn đầy- con người có lúc đã khiếm khuyết. Vầng trăng cao thượng ấy luôn tỏa ánh sáng xuống nhân gian- ánh sáng có thể soi rọi vào mọi góc khuất trong tâm can mỗi con người để từ đó giúp ta nhận ra lỗi lầm để sửa lỗi, hoàn thiện bản thân. Không chỉ có vậy, ở câu thơ này, tác giả còn nhân hóa “ánh trăng” với từ ngữ nhân hóa là cụm tính từ “cứ im phăng phắc” giúp “ánh trăng” trở nên có hồn, sinh động và gần gũi hơn độc giả:

ánh trăng im phăng phắc

Mặc cho con người có vô tình, có bội bạc thì ánh trăng vẫn bao dung, rộng lượng mà không một lời trách móc, giận hờn. Nhưng chính sự im lặng ấy của trăng lại biến nó thành một nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc để con người tự kiểm điểm lại bản thân vì đã quay lưng lại hoàn toàn với quá khứ. Ánh trăng ấy khiến cho con người phải “giật mình” trong tâm khảm để tự nhắc nhở mình không bao giờ được vô tình vô nghĩa mà bội bạc với quá khứ:

đủ cho ta giật mình.

Lời nhắc nhở đó không chỉ của riêng nhà thơ hay thế hệ những người lính đã từng bước qua chiến tranh mà còn dành cho tất cả mọi người, bất kì ai đã từng có những giây phút quên đi quá khứ của chính mình.

“Ánh trăng” là bài thơ mang đậm phong cách Nguyễn Duy– giản dị mà sâu sắc như một câu chuyện ngụ ngôn. Chất tự sự, biểu cảm và triết lý tác động cả vào cảm xúc và nhận thức của độc giả để từ đó giúp nhà thơ gửi cho ta một thông điệp quen thuộc mà đầy ý nghĩa: Hãy sống ân tình thủy chung, biết uống nước nhớ nguồn!

Hải Anh