Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt

Bài làm

Trong cuộc trường kì kháng chiến chống Đế quốc Mĩ của dân tộc ta, tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của toàn dân luôn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà tình yêu, đặc biệt là tình cảm gia đình bị lãng quên, bằng chứng là đã có rất nhiều tác phẩm văn học về đề tài gia đình được ra đời trong thời kì khốc liệt ấy. Trong số đó, ta không thể không kể đến bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, một lá thư tác giả gửi cho bà của mình từ vùng đất xa xôi để bày tỏ tình yêu thương và kính trọng mà mình dành cho người bà thân thương đang ở quê nhà.

Thời gian và cả khoảng cách của không gian luôn là trở ngại rất lớn đối với mọi tình cảm, nhưng dường như đối với nhà thơ, càng xa cách, tình bà cháu của ông lại càng trở nên sâu đậm và gắn bó hơn. Đúng như nhan đề của bài thơ- “Bếp lửa”, mở đầu tác phẩm, độc giả đã ngay lập tức bắt gặp cụm từ “một bếp lửa” đánh dấu điểm xuất phát để tác giả ngược dòng thời gian kể về tuổi thơ gắn liền với hình ảnh bếp lửa và người bà của mình. Chỉ ba dòng thơ thôi nhưng khổ thơ mở đầu bài thơ đã có sức khái quát rất lớn khi làm nhiệm vụ khơi nguồn cho dòng hồi tưởng của Bằng Việt về người bà của mình và hình ảnh bếp lửa trong kí ức:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Lặp lại đến hai lần như một lời khẳng định chắn chắn rằng hình ảnh bếp lửa quen thuộc không bao giờ phai mờ trong tâm trí của người cháu. Cùng nhấn mạnh vào hình ảnh bếp lủa nhưng mỗi từ láy ở mỗi câu thơ lại mang đến cho người đọc người đọc những  cảm nhận riêng. “Chờn vờn”- từ láy gợi hình đặc sắc được tác giả sử dụng để miêu tả ngọn lửa buổi sớm bập bùng, lúc mờ lúc tỏ, lúc ẩn lúc hiện trong làn sương sớm, đã gián tiếp thể hiện sự tần tảo, mỗi sáng sớm đều phải bỏ dở giấc ngủ để thức dậy nhóm lên ngọn lửa ấm áp xua tan cái giá lạnh, để sưởi ấm cho cháu, cho cả gia đình của bà. Trong khi đó, “ấp iu” lại gợi ra sự giữ gìn, nâng niu của người bà. Đôi tay gầy guộc của bà sáng nào cũng nhóm bếp, giữ cho ngọn lửa mãi ấm nóng để chở che cho cháu khỏi cái giá lạnh, bà luôn là người ủ ấm tình cảm bà cháu thiêng liêng mà gần gũi ấy. Trải qua hai lần lặp lại hình ảnh bếp lửa, đến câu thơ cuối cùng của khổ thơ, Bằng Việt mới trực tiếp bộc lộ tình cảm của mình với bà qua từ “thương”. Đứa cháu thương bà phải vất vả sớm khuya vì mình, cảm động trước tình yêu thương vô bờ bến mà bà dành cho cháu. Tình yêu thương ấy là sự tần tảo, là nỗi thiệt thòi của bà khi phải thức dậy sớm hơn mặt trời để nhóm bếp, ấp ủ, nâng niu ngọn lửa nhỏ để nó sưởi ấm cho cháu qua mùa đông lạnh giá, tình yêu thương ấy không êm đềm, ngọt ngào mà thấm đẫm những khó khăn, vất vả của “nắng mưa” cuộc đời. “Nắng mưa” ấy không chỉ là những ngày phải dậy sớm nhóm lên ngọn lửa sưởi ấm cho cả nhà mà còn là sự gian khổ, khốc liệt, hiểm nguy, thiếu thốn của cuộc sống hai bà cháu trong cả hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Hình ảnh “bếp lửa” đã khơi dậy trong tâm trí người cháu và cả bạn đọc những khó khăn, gian khổ, những ấm áp, “ấp iu” mà bà dành cho cháu. Điều đó sẽ mãi đọng lại trong kí ức và trái tim đứa cháu nhỏ ngày nào, đọng lại trong từ “thương”, trong những “nắng mưa” cuộc đời và trong cả tâm trí bạn đọc.

Dòng hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ hiện lên rõ dần, người cháu như một lần nữa được trải qua những kí ức đáng nhớ.

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

Kỉ niệm đầu tiên mà cháu nhớ chính là khi lên bốn, lứa tuổi mới bắt đầu nhận thức, cháu đã nhớ năm ấy chính là năm nạn đói chết người bùng nổ, ngay trước khi Cách mạng tháng Tám thành công. Nỗi xót xa, ám ảnh kinh hoàng chắc hẳn đã trở thành những kí ức không thể nào quên với đứa cháu nhỏ. Bà đã già lắm rồi, cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều cực khổ rồi, ấy vậy mà tới khi tuổi đã cao, bà vẫn phải chăm lo cho đứa cháu còn nhỏ dại, hai bà cháu nương tựa vào nhau gắng gượng vượt qua nạn đói khủng khiếp năm 1945. Trong những ngày tháng cái đói, cái chết luôn đe dọa ấy, bằng tình yêu thương bao la dành cho cháu, bà vẫn sớm sớm nhóm lửa nấu cơm, luộc khoai, luộc sắn, cố gắng lo từng miếng ăn cho cháu không chỉ trong những ngày tháng cơ cực của năm Ất Dậu mà còn trong suốt cả tuổi thơ cháu, tới nỗi “cháu đã quen mùi khói”. Thế nhưng, khó khăn vẫn ngày ngày tiếp diễn, càng trong tình huống ấy, ta lại càng cảm nhận được tình cảm sâu sắc, cảm động mà bà dành cho cháu, vượt qua đủ mọi khó khăn, vất vả của cuộc đời để nuôi lớn cháu:

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Không chỉ con người, cả động vật cũng không tránh khỏi thảm cảnh của nạn đói năm ấy. Vậy mà, giữa sự thiếu thốn đến tột cùng ấy, khói vẫn hun “nhèm” mắt cháu. Những chịu đựng, hy sinh của bà tất cả là vì cháu, là để nuôi cháu khôn lớn nên người. Trước tình yêu thương vô bờ bến ấy, người cháu không khỏi xúc động mà “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”. Nhớ lại những kỉ niệm tuổi thơ thời lên bốn, cháu vẫn còn nguyên những cảm giác ấy- cay mắt vì khói, vì nước mắt, vì thương bà. Ở độ tuổi nhỏ như vậy, cháu đã cảm nhận được nỗi khó khăn, vất vả của bà, cũng cảm động trước tình yêu thương và sự chăm lo của bà, cả khổ thơ như tràn ngập trong khói bếp mờ ảo, trong tình yêu thương mãi ấm nóng như ngọn lửa bà vẫn nhóm lên mỗi ngày.

 

Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Bếp lửa

Đứa cháu nhỏ khi lớn hơn một chút đã cảm nhận được rõ hơn, cũng biết thương bà hơn:

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú trên những cánh đồng xa

Tám năm không phải là một quãng thời gian quá dài những vì những gian khổ, khó nhọc mà thời gian dường như kéo dài ra, ròng rã và nặng nề trôi đi. Từ trong khói bếp mịt mù, từ trong những khó khăn, gian khổ ấy, một âm thanh thân thuộc với đứa cháu, với làng quê Việt Nam chợt vang lên như một kí ức khó quên của tuổi thơ. Trên nền không gian rộng lớn của làng quê, tiếng tu hú khắc khoải, não nề vang lên như gợi ra một không gian bình yên, thân thuộc cũng có gì đó mênh mông, xa vắng, mang lại cảm giác buồn man mác. Tiếng tu hú cũng gắn liền với cuộc sống của hai bà cháu,

Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

với những câu chuyện mà bà vẫn thường hay kể cho cháu. Không giống như những người ông, người bà thường kể chuyện cổ tích cho cháu, bà kể cho cháu những cuộc trường kì kháng chiến chống Thực dân Pháp, về truyền thống yêu nước đáng tự hào của dân tộc. Tiếng tu hú cùng giọng kể của bà như lời dẫn kể về câu chuyện tuổi thơ của cháu, để lại trong cháu nỗi ám ảnh về tiếng kêu của loài chim nọ đã gắn bó với cuộc sống cô quạnh của hai bà cháu:

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Trên nền âm thanh ấy, nhịp sống của hai bà cháu dần được gợi ra, cô đơn và khó nhọc:

Mẹ cùng cha công tác bận không về

Nhà chỉ có hai bà cháu, cả hai phải dựa vào nhau mà sống. Cuộc sống vất vả, khó khăn, quạnh hiu là thế nhưng cháu vẫn được ủ ấm, khôn lớn trong tình yêu thương của bà:

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.

Vì mưu sinh, cha mẹ không thể ở nhà chăm lo cho mẹ già, con nhỏ, bà trở thành trụ cột của đứa cháu, là cha mẹ, là thầy cô, bạn bè của cháu. Bà đã sưởi ấm tâm hồn đứa cháu nhỏ, nhờ vậy mà cháu không còn thấy thiếu vắng, cô đơn, cháu càng gắn bó với bà hơn, cuộc sống ấm áp tình yêu thương. Cháu cũng đã lớn, đã hiểu được những khó khăn, vất vả trong sống của hai bà cháu:

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Loading...

Mỗi lần nhóm bếp lên, hình ảnh bà tần tảo, đảm đang nuôi dưỡng cháu lại hiện lên, cháu như cảm nhận được tình yêu thương ấm áp từ ngọn lửa mà bà nhóm mỗi ngày để chăm lo cho đứa cháu nhỏ. Lại một lần nữa tiếng tu hú xuất hiện, lần này là trong lời gọi ngây thơ của cháu:

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Tu hú đến ở cùng bà cháu, để hai bà cháu đỡ cô quanh trong gian nhà trống vắng, để tu hú có một gia đình. Ước mong ngây thơ của cháu tưởng như chỉ là một ước muốn nhỏ bé nhưng lại vô cùng sâu sắc, ý nghĩa. Tu hú có đặc tính đẻ trứng vào tổ của loài chim khác rồi bỏ đi, nên khi tu hú con chui khỏi vỏ trứng và không thấy mẹ đâu, nó sẽ bay khắp nơi “trên những cánh đồng xa” để gọi mẹ, tìm mẹ. Đứa cháu nhỏ biết nghĩ, cũng biết yêu thương bà. Câu thơ dường như còn là lời trách nhẹ nhàng tu hú sao không đến ở cùng bà để bà đỡ cô đơn, đỡ vất vả. Kết thúc khổ thơ, tác giả đặt một dấu chấm hỏi ở cuối câu thơ như một lời thắc mắc khắc khoải nhằm bộc lộ cảm xúc của mình. Cháu ngây thơ hỏi tu hú như thế, cháu thương bà phải vất vả, khó nhọc một mình nuôi dưỡng, chăm lo cho cháu. “Những cánh đồng xa” được lặp lại hai lần trong khổ thơ để nhấn mạnh vào không gian rộng lớn mênh mông, hoang vắng, xa xôi, có phần rợn ngợp của vùng quê nghèo nơi hai bà cháu phải cuộc sống cô đơn, hiu quạnh trong gian nhà vắng với tiếng tu hú khắc khoải, da diết, ám ảnh. Trong suốt cả khổ thơ, tiếng tu hú và hình ảnh loài chim ấy lặp lại tới năm lần như một sự khẳng định về một phần không thể tách rời trong kí ức của đứa cháu- “tu hú”, gắn liền với hình ảnh người bà vất vả, cực nhọc trong cuộc sống quạnh hiu của hai bà cháu. Những đói, những khổ, những cô đơn trong cuộc sống của hai bà cháu dường như vẫn chưa là khi so với “năm giặc đốt làng”. Không nhắc đến thời gian cụ thể nhưng với kỉ niệm này, chỉ với một cụm từ thôi bạn đọc đã phần nào hình dung được những gì khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Giặc đốt làng, đốt từng ngôi nhà nhỏ của những người dân nghèo khốn khổ. Những ngôi nhà đã gắn bó với ta từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành nay lại bị thiêu cháy dưới ngọn lửa tàn ác của quân thù. Chúng không chỉ đốt nhà, đốt làng mà còn muốn thiêu tàn tinh thần của những người dân yêu quê hương, đất nước. Nhưng càng trong hoàn cảnh khó khăn ấy, tình làng nghĩa xóm, tình yêu quê hương lại càng được thể hiện rõ. Bên cạnh tình cảm gắn bó ấy, nghị lực của bà vẫn bền vững. Bà thật mạnh mẽ, bà của cháu không ngã lòng, không suy sụp, tuyệt vọng, bà vững vàng như muốn con cháu yên lòng. Một mình bà tự đứng dậy, tự dựng lại cuộc sống với bếp ửa với những làn khói mù mịt trước đây:

Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!

Bà cứng cỏi, mạnh mẽ, vững vàng, dặn đi dặn lại lời mình để đứa cháu nhỏ không quên, bà hy sinh bản thân để con cháu được hạnh phúc. Bà đã phá tan âm mưu của kẻ thù, bà cũng như mỗi người dân làng trên khắp mọi làng quê trên đất nước Việt Nam đều góp phần đánh tan quân thù, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Ở bà, tình yêu gia đình và tình yêu quê hương, đất nước hòa quyện một cách tự nhiên và sâu sắc. Kỉ niệm tuổi thơ trong cháu không chỉ là khói bếp, là tiếng tu hú vang vọng não nề giữa khung cảnh làng quê hiu quạnh, kỉ niệm lớn nhất, sâu đậm nhất trong cháu chính là bà. Bà hiện lên xuyên suốt những hồi ức của cháu với tình yêu thương tha thiết và sâu sắc.

Khép lại dòng hồi tưởng về quá khứ, tuổi thơ, cháu suy ngẫm về bà, về cuộc đời bà, về những gì hai bà cháu đã cùng trải qua trong thời thơ ấu. Chỉ với ba dòng thơ nhưng khổ thơ thứ năm của bài thơ lại mang tính triết lý sâu sắc:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

“Sớm”, “chiều”- hai từ ngữ gợi ra sự luân chuyển của thời gian. Thời gian vẫn trôi qua, bà vẫn mãi là người nhóm lửa. Lời kể giản dị ấy của người cháu như để nhấn mạnh vào công việc nhóm bếp của bà hay cả hình ảnh bếp lửa nên nhà thơ đã đảo “lại bếp lửa” lên trước “bà nhen”. Công việc ấy của bà được thực hiện đều đặn như một nhịp sống quen thuộc để chăm lo cho gia đình, cho đứa cháu nhỏ. Đọc đến khổ thơ này, độc giả có thể dễ dàng nhận ra sự mâu thuẫn khi ở câu thơ trên là “bếp lửa” nhưng đến câu thứ hai lại là “ngọn lửa”. Thực chất có sự thay đổi này là vì “ngọn lửa” có tính biêu tượng khái quát hơn “bếp lửa”. Nếu như “bếp lửa” biểu hiện cuộc sống cực nhọc, khó khăn của hai bà cháu thì “ngọn lửa” là sức sống, niềm tin, tình yêu thương của hai người trong cuộc sống đầy cơ cực ấy. Bếp lửa thổi bùng lên ngọn lửa ấm nóng của tình yêu thương để ngọn lửa ấy luôn sưởi ấm cho hai bà cháu. Bà không chỉ là người nhóm bếp mà còn là người giữ cho ngọn lửa ấy luôn cháy mãi, nâng niu ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng. Điệp ngữ “một ngọn lửa” xuất hiện hai lần liên tiếp như vừa để chỉ ngọn lửa vật chất vừa khái quát về ngọn lửa tinh thần. Ngọn lửa của bà đã truyền lại cho con cháu tình yêu thương và cả nhân cách sống cao đẹp. Kết thúc khổ thơ bằng dấu chấm lửng cùng từ láy “dai dẳng”, cháu khẳng định ngọn lửa của bà sẽ cháy mãi, mang theo hơi ấm mãi còn vẹn nguyên. Nhắc đến hình ảnh bếp lửa, Bằng Việt muốn khắc sâu vào trong tim dáng hình bà ngày ngày tần tảo, chịu khó với tình yêu thương mãnh liệt dành cho cháu. Càng hiểu bà, cháu càng nhận ra sự vĩ đại của bà:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Với nghệ thuật đảo trật tự từ, Bằng Việt đã nhấn mạnh vào sự cơ cực, gian khổ mà bà phải trải qua. Mở đầu là “lận đận”, kết thúc là “nắng mưa”, cuộc đời bà chẳng lúc nào được một phút thảnh thơi, an nhàn. Cuộc sống khó khăn hay chính bà cũng muốn hy sinh, muốn sống phần nhiều vì con vì cháu. Dù cho thời gian có trôi qua, trong lòng cháu, bà vẫn mãi là người nhóm lên ngọn lửa hồng mỗi sớm.

Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Liên tiếp trong bốn câu thơ, từ “nhóm” xuất hiện với chỉ một từ mang nghĩa gốc, những từ còn lại đều là nghĩa chuyển:

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.

Bà nhóm lên niềm vui bình dị trong cuộc sống, nhóm lên tình làng nghĩa xóm, bà nhóm cả ước mơ để cháu vững bước vào tương lai. Bà nhóm lên ngọn lửa vật chất để xua đi cái giá lạnh, để lo cho cháu từng bữa ăn đạm bạc. Bà nhóm cả ngọn lửa tinh thần, sưởi ấm tâm hồn cháu. Cháu chợt nhận ra bà đã yêu thương cháu nhiều biết nhường nào ngay từ trong những việc nhỏ nhặt nhất. Cháu đã hiểu ý nghĩa sâu xa ẩn chứa đằng sau hình ảnh bếp lửa bấy lâu vẫn gắn bó với bà.

Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa!

Cháu xúc động trước tình yêu thương của bà, trân trọng và biết ơn những hy sinh của cuộc đời bà để cháu được khôn lớn hạnh phúc và bình yên. Chỉ một từ “bà” thôi cũng đủ để cháu bộc lộ tình yêu, sự kính trọng và biết ơn của mình với bà. Với cháu, tình bà cháu thiêng liêng hơn bất kì thứ tình cảm nào khác.

Nay cháu đã xa bà, ở một đất nước khác, khoảng cách địa lý ngăn cách hai bà cháu:

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả.

Những dấu chấm, phẩy giữa hai câu thơ như những tiếng nấc nghẹn ngào của cháu, của Bằng Việt, của cả bạn đọc. Sống ở một môi trường khác tân tiến hơn, phát triển hơn, nhưng cháu vẫn không quên những khó khăn, vất vả mà bà đã phải chịu để nuôi cháu lớn nên người. Nhờ có tình yêu thương, sự tảo tần và đức hy sinh của bà mà cháu mới có ngày hôm nay. Cháu chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ quên những cực nhọc tuổi thơ, những vất vả cuộc đời bà, cháu luôn nhớ thương bà.

Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở:

-Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…

Khép lại bài thơ với kết mở bằng câu hỏi tu từ, Bằng Việt ngầm khẳng định: bà vẫn mãi là người nhóm bếp, giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và truyền ngọn lửa niềm tin; đồng thời ông cũng gợi ra cho người đọc nhiều liên tưởng.

Bếp lửa! “Thật kì lạ và thiêng liêng”! Lá thư gửi bà của đứa cháu đã hoàn thành nhưng những tình cảm của cháu đối với bà sẽ không bao giờ có điểm kết. Bài thơ cũng là lời nhắc nhở đến tất cả bạn đọc, hãy biết yêu thương và trân trọng tình cảm của những người bà luôn hết mực yêu thương, chăm sóc ta.

Hải Anh