Phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu của nhà thơ Nguyễn Khuyến đạt điểm cao

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của tác giả 

Bài làm

Người ta vẫn thường coi mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm với thời tiết mát mẻ dễ chịu và những thức quà đặc trưng của vùng thôn quê chân chất, trong nghệ thuật, mùa thu từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của các văn, nghệ sĩ. Giữa không khí dịu dàng của mùa thu, ở nơi quê nhà yên bình, cũng như bao thi nhân khác luôn ấp ủ một tâm hồn tinh tế cùng khát khao giao cảm với thiên nhiên, Nguyễn Khuyến đã cho ra đời Chùm Thơ thu nổi tiếng gồm ba bài: , Thu vịnh và Thu ẩm. Trong số đó, ấn tượng nhất với bạn đọc nhất bởi cảnh câu cá thanh bình, tĩnh lặng, gợi nên nhiều suy ngẫm trong tiết trời thu, có lẽ chính là bài thơ Thu điếu- Câu cá mùa thu.

Nguyễn Khuyến làm quan ở triều đình được mười năm, vì thời đại có nhiều biến động, ông quyết định bỏ lại hư danh chốn quan trường, xin được về quê ở ẩn, từ đó, ông lấy thơ ca, sáng tác làm thú vui tiêu khiển, tâm hồn. Chùm Thơ thu là ba bài thơ thành công nhất của ông, cũng được coi là những bài thơ Nôm hay nhất trong kho tàng trung đại Việt Nam. Cả Chùm Thơ thu, bao gồm Thu điếu, đều được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật bằng chữ Nôm, với cách thể hiện này, những cảm nhận tinh tế nhất về cảnh sắc mùa thu cũng như những tâm sự sâu kín của Nguyễn Khuyến đều được bộc lộ trọn vẹn, chân thật nhất. Nhân vật trữ tình trong bài thơ, hẳn nhiên, là tác giả. Ông ngồi trên thuyền, giữa mặt nước ao thu câu cá nhưng không chú ý vào việc câu cá mà chỉ để tâm quan sát cảnh thu ở làng quê: ao thu, sóng thu, nước thu, cá thu, trời thu, ngõ trúc,… và suy ngẫm.

Vùng quê Lục Bình của Nguyễn Khiếu vốn là một vùng chiêm chũng với rất nhiều ao chuôm, bởi vậy nên bức tranh mùa thu hiện lên trong bốn câu thơ đầu của nhà thơ chính là được miêu tả ở phạm vi một chiếc ao làng nhỏ bé. Ao làng từ xưa vốn đã là một biểu tượng đặc trưng của hồn quê, cảnh quê, đặc biệt là vùng nông thôn miền Bắc.

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao làng vẫn hơn

Từ góc nhìn quen thuộc, thân thương ấy, nhà thơ nhìn ra xung quanh:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Một làn nước thu lạnh lẽo và trong veo, làn nước ấy ở ngay bên cạnh nhà thơ, "trong veo" đến độ dường như có thể nhìn thấu cả đáy ao, "lạnh lẽo" lại mang đến những cảm nhận chân thực và sống động về khí trời mùa thu. Cái lạnh ấy tuy chỉ là cái se lạnh thoáng qua của mùa thu, nhưng đặt trong ngữ cảnh câu thơ, giữa ao làng nhỏ tĩnh lặng, độc giả càng cảm nhận được rõ hơn làn nước ao thu nơi nhà thơ câu cá. Cái lạnh có lẽ khiến ta phải rùng mình. Nổi bật giữa không gian tĩnh lặng, lạnh lẽo dễ khiến người ta cảm thấy hiu quạnh là một chiếc thuyền câu "bé tẻo teo". Từ láy "tẻo teo" giàu hình ảnh gợi lên trước mắt bạn đọc một chiếc thuyền câu rất nhỏ, rất xinh. Thế nhưng, chính từ láy này cũng mang đến cho ta cảm giác chiếc thuyền cứ nhỏ dần, nhỏ dần. Chỉ là một chiếc ao làng nhỏ nhưng so với chiếc thuyền câu "bé tẻo teo", sự đối lập, tương phản giữa hai sự vật càng trở nên lớn hơn. Giữa tiết trời lạnh lẽo mùa thu, trên mặt ao trong veo nhìn thấu cả đáy, chiếc thuyền câu hiện lên nhỏ nhoi và cô đơn, chứa đựng cả cảm xúc và tâm sự của người ngồi trên thuyền.

Xem thêm:  Nghị luận văn học: Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu trong bài thơ Vội Vàng

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Loading...

Ao nhỏ, thuyền nhỏ, sóng cũng nhỏ, lại mang theo sắc xanh “biếc” của bầu trời thu. Ngọn sóng ở trong ao, nhỏ bé, chỉ đủ để tạo ra những “gợn” trên mặt nước. Đằng trước có “hơi”, phía sau lại là “tí”, “gợn” đứng ở giữa, vốn đã là một chuyển động nhỏ lại càng trở nên nhỏ nhoi, nhạt nhòa. Gió thu thổi nhè nhẹ nên mặt ao phẳng lặng chỉ thỉnh thoảng có những gợn sóng li ti thoáng qua cũng là điều dễ hiểu. Điều đáng chú ý ở đây là hệ thống hình ảnh mà nhà thơ đưa ra đều là các sự vật nhỏ bé. Như chiếc lá vàng ở câu thơ thứ tư này, dù chỉ là một chiếc lá đã úa tàn, khô héo nhưng phải nhỏ bé, mỏng manh đến nhường nào thì chỉ gió thu khẽ khàng cũng có thể khiến chiếc lá “khẽ đưa vèo”. Đó phải chăng là lá tre, lá trúc quen thuộc, thân thương của làng quê Việt Nam? Miêu tả chiếc lá vàng bị gió thổi bay, nhà thơ đã dùng từ “vèo”- vừa gợi âm thanh của chiếc lá rơi vừa gợi tốc độ bay nhanh, dáng bay và vẻ mỏng manh của chiếc lá. Một chiếc lá rơi có thể tạo ra âm thanh lớn đến đâu? Âm thanh của lá rơi vốn dĩ đã rất nhỏ, gần như là không có một tiếng động nào, lại được Nguyễn Khuyến dùng từ “vèo” để miêu tả, bạn đọc hẳn đã nhận ra tiếng rơi của chiếc lá nọ đã gián tiếp làm nổi bật sự tĩnh lặng của cảnh thu quanh chiếc ao làng nhỏ bé. Từ nơi ấy nhìn lên, trước mắt tác giả là bầu trời mùa thu cao vời vợi và những ngõ trúc sâu, quanh co trong làng.

Xem thêm:  Phân tích văn bản Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tất cả đều trống trải, vắng lặng, gợi lên trong lòng người đọc một cảm xúc đặc trưng, rất thu. Giữa bầu trời cao rộng lớn, những đám mây trắng xốp lơ lửng như được bàn tay của tự nhiên đặt vào đó, mang đến cho khung cảnh trời thu sự lãng mạn, thi vị như một bức họa cực phẩm. Trời vốn dĩ đã cao, bầu trời vào mùa thu dường như lại càng cao hơn. Cùng với đó, cách dùng từ “xanh ngắt” để miêu tả trời thu của Nguyễn Khuyến không chỉ diễn tả một sắc xanh đến tuyệt đối mà còn thêm lần nữa nâng lên độ cao của bầu trời. Cả màu sắc, cảnh vật và độ cao của trời thu đều đạt đến một vẻ đẹp tuyệt đối. Nhà thơ chuyển tầm mắt, bạn đọc lại được chiêm ngưỡng một khung cảnh khác, lần này là những ngõ trúc uốn lượn quanh co, mở ra trước mắt ta một độ sâu khó đoán. Sâu như thế nên vốn dĩ người đã vắng, cho dù có người cũng sẽ chỉ là những bóng dáng nhỏ bé, dễ dàng bị cái “quanh co” của ngõ trúc che khuất. Sự vắng vẻ nơi đây cũng đạt đến tuyệt đối với cách dùng từ “vắng teo” giản dị mà đầy dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến, bức tranh cảnh thu tĩnh lặng, vắng vẻ đến hiu quạnh, lạnh lẽo càng tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc nhờ bút pháp cổ điển nhưng vẫn gợi được vẻ đẹp, cái hồn của làng quê Việt Nam. Không chỉ viết theo thể thơ Đường luật cổ điển, tác giả còn dùng những thi liệu quen thuộc đã xuất hiện nhiều lần, trở thành điểm đặc trưng mỗi khi nhắc về mùa thu trong thơ cổ, như ao thu, trời thu, lá vàng, người câu cá,… Đặc biệt hơn cả trong những thành công về nghệ thuật ở thi phẩm này là nghệ thuật lấy động tả tĩnh được Nguyễn Khuyến chau truốt, chú trọng. Đặt “sóng biếc”, “lá vàng” trong một không gian tĩnh lặng, nhà thơ không đơn thuần muốn miêu tả những âm thanh nhỏ bé, mỏng manh ấy, cái ông muốn bạn đọc nhận ra và hướng tới chính là khung cảnh yên tĩnh, vắng vẻ , sự thanh bình mà cũng lạnh lẽo, có phần hiu quạnh của làng quê Việt Nam mùa thu. Khung cảnh ấy, dù được miêu tả bằng bút pháp cổ điển, nhưng vẫn không hề mất đi cái hồn của nó. Việc sử dụng những hình ảnh đặc trưng, thân thuộc với làng quê như ao làng, thuyền câu, cánh bèo, ngõ trúc,…, đem cho nó những sắc xanh hài hòa, mang đậm hồn quê đã giúp Nguyễn Khuyến cân bằng giữa nghệ thuật cổ điển và những xúc cảm giản dị, mộc mạc nơi làng quê thanh bình. Cách lặp lại vần “eo” nhiều lần trong sáu câu thơ miêu thu đã góp phần gợi nên một không gian mùa thu phảng phất tâm trạng man mác buồn, có phần hiu quạnh và lạnh lẽo của không chỉ cảnh mà còn ở lòng người.

Xem thêm:  Em hãy viết bài thuyết minh tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí

Phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu của nhà thơ Nguyễn Khuyến đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Thu điếu

Nghệ thuật đáng nói nhất của bài thơ, nhất định phải kể đến tả cảnh ngụ tình, khi mà sáu câu thơ đầu Nguyễn Khuyến khắc họa bức tranh mùa thu nơi làng quê Việt Nam để qua đó ngầm bộc lộ tâm trạng của ông, để hai câu thơ cuối cùng hiện lên tiếp nối mạch cảm xúc, hoàn thành một thi phẩm để đời:

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Cho đến hai câu thơ cuối cùng, nhà thơ mới xuất hiện, trong tư thế “tựa gối buông cần”, là tư thế ngồi thẳng mà cúi đầu tựa lên gối. Bạn đọc có lẽ đều đã hình dung và cảm nhận được, đây chính là tư thế muốn thu nhỏ mình lại. Tác giả ngồi như thế, dường như là vì cái “lạnh lẽo” của tiết trời thu, của làn hơi nước gợn sóng, của ngõ trúc quanh co, vắng vẻ; ngồi như thế cũng có thể để ông chìm đắm trong những suy ngẫm, những trầm tư, để hào mình vào với thiên nhiên, với cái trong trẻo, cô đơn của đất trời, bởi lòng người giây phút ấy có lẽ cũng cô tịch và thật hiu quạnh. Có lẽ, giống như đã từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”. Vốn dĩ nhà thơ ra ao là để câu cá, nhưng có phải do quá mải nghĩ suy mà ông đã quên đi việc chính mà mình đang làm? Sự thật không phải như vậy, nhà thơ vẫn nhớ, vẫn biết mình đang câu cá. Nhớ nên biết mình ngồi câu đã lâu mà vẫn chưa câu được con cá nào. Chỉ là vì ông đến đây thực chất để tâm hồn được thanh thản, để ngẫm nghĩ và suy tư, nên khi nghe thấy tiếng cá quẫy, nhà thơ mới giật mình thảng thốt: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Chính tiếng cá đớp mồi ấy cũng là âm thanh duy nhất vang lên, càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng, vắng vẻ của cảnh thu nơi chiếc ao nhỏ.

Thu điếu là bài thơ đặc sắc và thành công ở cả hai phương diện- tả cảnh và tả tình. Làng quê Việt Nam vốn không còn là đề tài mới mẻ trong thơ trung đại, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến lại hiện lên với một vẻ đẹp thanh nhã, trang trọng, đậm màu sắc cổ điển. Qua bài thơ, nhà thơ không chỉ miêu tả toàn cảnh làng quê mùa thu mà còn ẩn ẩn bộc lộ tâm trạng, nỗi buồn của ông, cũng chính là biểu hiện của tình yêu quê hương, đất nước.

Hải Anh