Phân tích bài thơ Chiều Tối của tác giả Hồ Chí Minh

0
Loading...
Phân tích bài thơ Chiều Tối của tác giả Hồ Chí Minh
5 (100%) 1 đánh giá

Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh

Bài làm

Ở Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, có rất nhiều bài thơ viết về cảnh đi đường, chuyển lao khi sáng sớm, lúc tối muộn, trong đủ mọi hoàn cảnh thời tiết, trải qua vô vàn khó khăn, gian khổ. Tuy vậy, dù ở bất cứ bài thơ nào, ta cũng đều cảm nhận được tinh thần lạc quan, yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp và một trái tim luôn hướng về quê hương, dân tộc của Người. Trong toàn bộ tập thơ Nhật ký trong tù, có lẽ Chiều tối chính là thi phẩm để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong lòng bạn đọc về vẻ đẹp tâm hồn và cả vẻ đẹp thơ Bác.

Suốt khoảng thời gian lưu đày nơi xứ người, Bác luôn phải trải qua những cuộc chuyển lao đầy vất vả, bài thơ Chiều tối cũng xuất phát từ một lần chuyển lao của Bác. Đúng như nhan đề của nó, tác phẩm ra đời ở thời điểm cuối của một ngày dài đầy ải, người tù theo lẽ thường sẽ phải mệt mỏi, chán chường, nhưng riêng với Bác, tâm hồn Người trước khung cảnh thiên nhiên trữ tình nơi núi cao lại bỗng tràn ngập thi hứng. Người đọc khó có thể tìm được cảm giác mỏi mệt, chán nản trong Chiều tối, trái lại, ta còn dễ dàng ấn tượng và ngưỡng mộ trước tinh thần lạc quan, lòng yêu thiên nhiên, yêu con người và nỗi nhớ quê hương được thể hiện nổi bật trong thi phẩm.

Được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, hai câu thơ mở đầu bài thơ chính là khung cảnh thiên nhiên núi rừng trên đường chuyển lao lúc chiều tối:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô lâm mạn mạn độ thiên không

Bức tranh cảnh chiều tà dưới con mắt của một tù nhân đã đi cả một chặng đường dài của cuộc chuyển lao đầy gian khổ được miêu tả bằng hai hình ảnh rất quen thuộc, đã trở thành truyền thống trong thơ cổ. Hình ảnh cánh chim mỏi mệt bay giữa khoảng trời mênh mông đã gợi ra khoảng thời gian chiều tối mà không cần tác giả trực tiếp nhắc đến. Bà Huyện Thanh Quan cũng đã từng sử dụng nghệ thuật này trong tác phẩm Buổi chiều lữ thứ:

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Cùng với đó, ở câu thơ thứ hai, hình ảnh áng mây cô đơn chầm chậm trôi trên bầu trời cũng mang ý nghĩa biểu tượng, ngầm thể hiện thời gian chiều tà. Với hai hình ảnh ấy, nhà thơ không trực tiếp nói về buổi chiều mà buổi chiều vẫn hiện ra, bạn đọc vẫn hình dung và cảm nhận được trọn vẹn khung cảnh thiên nhiên nơi núi rừng lúc mặt trời xuống núi. Không chỉ được khắc họa qua nghệ thuật lấy không gian diễn tả thời gian mà ta thường gặp trong thơ cổ, bức tranh cảnh chiều còn được miêu tả bằng bút pháp chấm phá. Chỉ qua hai hình ảnh “cánh chim” và “chòm mây”, tác giả đã thu hết linh hồn chiều tà vùng sơn cước trong hai câu thơ. Cánh chim về rừng tìm nơi trú ngụ để lại chòm mây giữa tĩnh vắng cô đơn- “cô vân”. Cảnh vật gợi mọt vẻ buồn tĩnh lặng đến khắc khoải. Nếu so sánh bản phiên âm với bản dịch thơ, bạn đọc tinh ý một chút sẽ nhận thấy hình ảnh chòm mây sau khi dịch thơ không còn biểu đạt được trọn vẹn ý của tác giả. “Cô vân mạn mạn” trong nguyên tác chỉ chòm mây cô đơn, trôi chầm chậm qua bầu trời, mây dường như cũng có tâm trạng như con người; nhưng đến bản dịch thơ, “chòm mây trôi nhẹ” lại không diễn tả được sự cô đơn, có phần mỏi mệt cũng như trạng thái trôi chầm chậm của “cô vân”. Tuy nhiên, dù là nguyên tác hay bản dịch thì nhìn chung, bạn đọc cũng đều đã có được những cảm nhận riêng về khung cảnh thiên nhiên trữ tình khi chiều tối. Bên cạnh vẻ đẹp cổ điển, hai câu thơ còn mang những sáng tạo theo lối hiện đại của Bác. Ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này nếu so sánh hình ảnh cánh chim và chòm mây ở hai câu thơ trên với cũng hai hình ảnh này nhưng ở trong Độc toạ Kính Đình sơn của Lí Bạch thời Đường:

Chúng điểu cao phi tận,

Cô vân độc khứ nhàn.

Loading...

Đều dùng thi liệu “chúng điểu” và “cô vân” để gợi nhắc, miêu tả cảnh chiều tà nhưng trong Độc tọa Kính đình sơn, cánh chim bay vút lên cao vào cõi vô tận dường như là để lánh đời thoát tục, còn cánh chim ở Chiều tối sau một ngày đi kiếm mồi lại quay trở về rừng tìm chốn ngủ theo nhịp tuần hoàn của đời sống. Nếu như cánh chim trong thơ Lí Bạch mang cảm quan thoát li, lánh đục về trong thì cánh chim trong thơ Hồ Chí Minh lại hướng về đời sống, đối mặt với hiện thực. Đây là điểm sáng tạo của Bác xuất phát từ thơ Đường truyền thống, cũng là sự khác biệt giữa thái độ của Lí Bạch với Hồ Chí Minh trong thái độ đối với hiện thực đời sống. Đằng sau bức tranh thiên nhiên ấy là vẻ đẹp của một tâm hồn yêu thiên nhiên, luôn hướng tới sự giao hòa trọn vẹn với thiên nhiên. Cảnh trong hai câu thơ đã được nội tâm hóa với biện pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Cánh chim mỏi mệt sau một ngày kiếm ăn chính là tượng trưng cho người tù phải trải qua một ngày đầy ải trên chặng đường chuyển lao đầy gian nan, vất vả, lê bước trên đường xa: “Năm mươi ba cây số một ngày/ Áo mũ dầm mưa rách hết giày”. Người không chỉ mệt về thể lực mà ngay cả tinh thần cũng bị nỗi cô đơn nơi đất khách quê người bủa vây, như chòm mây lẻ loi cô đơn trôi chầm chậm trên bầu trời. Sự giao hòa giữa người và cảnh không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên mà còn cho thấy phong vị cổ điển của bài thơ. Cảnh và tình giao hòa trọn vẹn tạo cho hai câu thơ một nỗi buồn phảng phất. Nỗi buồn khi một người đang nóng lòng muốn tìm ra con đường cứu nguy cho dân tộc thoát khỏi ách nô lệ lại đang bị giam cầm một cách vô lí nơi đất khách quê người, hàng ngày phải trải qua những cuộc chuyển lao triền miên không biết khi nào mới kết thúc. Nỗi buồn ấy đã giúp ta cảm nhận được tấm lòng luôn hướng về đất nước, dân tộc của Bác. Tuy nhiên, tâm trạng buồn không phải là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, chính vì vậy mà ở hai câu thơ sau, mạch cảm xúc đã có sự chuyển đổi bất ngờ mà hết sức tự nhiên.

Phân tích bài thơ Chiều Tối của tác giả Hồ Chí Minh

Phân tích bài thơ Chiều tối

Bức tranh thiên nhiên ở hai câu thơ đầu đã chuyển thành bức tranh về vẻ đẹp bình dị của con người lao động ở hai câu thơ sau, đồng thời cũng bộc lộ tâm trạng của tác giả:

Thôn sơn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

Giữa núi rừng lúc chiều tối, cuộc sống của người dân nơi xóm núi đã đem đến cho bức tranh hơi ấm, xua tan đi cái lạnh lẽo khi mặt trời lặn. Hình ảnh thiếu nữ xóm núi xuất hiện với vẻ đẹp trẻ trung, tràn trề sức sống, vẻ đẹp của con người trong lao động, cần cù, say mê mà vẫn toát lên vẻ đáng yêu, đáng quý. Cô sơn nữ đã trở thành trung tâm của bức tranh chiều tối- điều chưa bao giờ có trong truyền thống thơ trung đại trước đây. Thơ cổ luôn lấy thiên nhiên làm trung tâm trong tác phẩm của mình, con người chỉ là nền, xuất hiện để tôn lên cái mênh mông, hoang vắng của thiên nhiên:

Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Thế nhưng, với Chiều tối, Hồ Chí Minh đã khéo léo sáng tạo theo cách hiện đại hơn, đưa con người trở thành trung tâm của bức tranh, của cả thi phẩm. Người thiếu nữ vùng sơn cước hiện lên trong tổng thể bài thơ, bên cạnh “lò than rực hồng” đã đem đến ánh sáng, hơi ấm và cả niềm vui cho mạch cảm xúc vốn đang là nỗi buồn, nỗi cô đơn phảng phất. Một chữ “hồng” mà xua tan cả bóng tối, lạnh lẽo và nỗi buồn hiu quạnh. Trong nguyên tác vốn dĩ nhà thơ không dùng từ “tối” nhưng người đọc lại vẫn hiểu và hình dung ra thời gian đã chuyển sang buổi tối chỉ với cụm “lô dĩ hồng”. Lò than thật ra đã hồng từ trước nhưng do trời còn sáng nên người ta không nhìn ra được, nhưng đến khi ánh sáng đỏ hồng từ lò than trở nên nổi bật thì người ta cũng biết rằng trời vừa tối. Đây là nghệ thuật lấy sáng tả tối phổ biến trong thơ trung đại mà rất tiếc là bản dịch thơ khi dịch sang chữ Quốc ngữ lại không giữ nguyên được cái hay về mặt nghệ thuật của câu thơ. Hai câu thơ cuối cùng này- cũng giống như hai câu trên- được nhà thơ sử dụng biện pháp tả cảnh ngụ tình để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của bản thân. Chiều tối, khi tất cả đều nhanh chóng kết thúc một ngày dài mệt mỏi, chim đã tập trung về rừng tìm cho mình một tổ ấm, một chốn nghỉ, người người nhà nhà đều quây quần bên nhau chuẩn bị cho một bữa tối sung họp đầm ấm, Bác vẫn đang trong xiềng xích, dây trói, giữa một mùa thu rét mướt, trên chặng đường đầy ải gập ghềnh, lắm chông gai, vất vả, thậm chí còn chưa biết nơi đâu mới là chốn nghỉ chân cho mình. Trong hoàn cảnh như thế mà Người vẫn có thể quên đi nỗi đau của riêng mình để cảm nhận sự vất vả, khó nhọc của người dân lao động, cũng đồng thời vui với niềm vui của người khác- những người mà Bác không hề quen biết nơi đất khách quê người. Thật là một tinh thần nhân đạo đến quên mình!

Nói Chiều tối là bài thơ điển hình cho vẻ đẹp tâm hồn và phong cách thơ Hồ Chí Minh quả không sai. Bài thơ không những thể hiện được tinh thần lạc quan, tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước của người con xa xứ trên chặng đường chuyển lao gian khổ mà còn đạt được thành công ấn tượng khi kết hợp giữa cái cổ điển và hiện đại trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh. Có thể nói, với sự ra đời của Chiều tối, Hồ Chí Minh đã thêm vào kho tàng văn học một kiệt tác nghệ thuật.

Hải Anh