Phân tích bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Bài làm

Là một trong những nhà thơ nổi bật thời kì chống Mỹ, thơ Nguyễn Khoa Điềm cảm xúc dồn nén, giàu chất suy tư, là những tiếng nói tích cực của một trí thức tham gia cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đặc trưng nghệ thuật ấy của thơ Nguyễn Khoa Điềm được thể hiện trọn vẹn trong trường ca Mặt đường khát vọng, đặc biệt là qua đoạn trích Đất nước. Với Đất nước, tác giả đã mang đến cho bạn đọc một tư tưởng mới, dân chủ, bình đẳng: Đất Nước của Nhân Dân.

Trích từ chương V trong tổng số chín chương của bản trường ca, Đất nước hay chính Mặt đường khát vọng được viết ở chiến khu Trị- Thiên năm 1971. Bài thơ là lời của tác giả viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam, về non sông đất nước, về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với vận mệnh của đất nước. Được chia thành hai phần rõ rệt, mỗi phần của đoạn trích mang một nội dung khác nhau, tưởng tách biệt mà lại có móc nối với nhau chặt chẽ.

Phần đầu tiên, nhà thơ đem đến cho bạn đọc những cách cảm nhận khác nhau về đất nước trên nhiều phương diện, góc nhìn. Từ chiều rộng không gian, chiều dài thời gian cho đến chiều sâu văn hóa, Đất Nước hiện lên trước mắt độc giả thật lớn lao mà trở nên vô cùng gần gũi, gắn bó. Không cần phải là một điều gì đó chung chung quá trừu tượng, đất nước đối với nhà thơ là những gì cụ thể nhất, ai ai cũng có thể hiểu, ai ai cũng có thể cảm nhận được:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

Đất Nước có từ khi ta sinh ra, theo ta đi hết cả cuộc đời là Đất Nước, Đất Nước gắn liền với đời người, với mỗi con người, mỗi gia đình. Đất Nước là những gì bình dị, thân thương nhất, chính là những câu chuyện cổ tích, thần thoại mẹ thường kể mỗi tối trước lúc đi ngủ, là miếng trầu bà têm mỗi ngày, là hạt gạo ta ăn hàng ngày- hạt gạo phải một nắng hai sương mà làm ra, lam lũ, vất vả, là sự chiến đấu kiên cường bất khuất, là yên bình của làng, của xóm. Mỗi một điều ta nhận được từ nhỏ, qua từng ngày lớn lên, đều có bóng hình Đất Nước ở đó, gần gũi, gắn bó đến mức ta dường như đã quên. Đất Nước là cái kèo, cái cột dựng nên mái nhà ta, là tình mẹ nghĩa cha bao la, vô tận sinh thành, nuôi dưỡng ta nên người… Thiêng liêng mà cũng thật gần gũi! Đất Nước qua cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm chính là như vậy.

Mở rộng ra một không gian rộng lớn hơn, mênh mông hơn, Đất Nước kéo dài từ rừng núi đến biển khơi:

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Qua cách viết hai câu thơ kéo dài, không ngắt nhịp, bạn đọc có thể cảm nhận được rõ nét không gian bao la, hùng vĩ của đất nước- điều này cũng đã từng được khẳng định qua bài thơ Thần Nam quốc sơn hà:

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

không ai có thể xâm phạm được. Đất Nước rộng lớn, mênh mông này chính là ngôi nhà chung đã có từ ngàn đời của 54 dân tộc anh em, gần gũi, thân thiết, ruột thịt, không gì có thể chia cắt:

Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ.

Từ cái chung rộng lớn, Đất Nước còn đi sâu vào đời sống mỗi người, là không gian sống, kỉ niệm, tình yêu, là những gì riêng tư, sâu kín nhất của mỗi cá nhân:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Từ một khái niệm trừu tượng, Đất Nước trở nên thật gần gũi, bình dị khi tác giả sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ, tách từ “đất nước” thành hai thành tố “đất” và “nước”. Với con người, đất nước cũng gần gũi, quan trọng như đất và nước, sự sống sẽ không thể có nếu thiết đất, nước. Không chỉ được cảm nhận qua không gian rộng lớn, Đất Nước còn là “thời gian đằng đẵng” theo chiều sâu của lịch sử. Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ thời sơ khai Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trăm trứng, từ truyền thuyết Vua Hùng với ngày giỗ Tổ của toàn dân tộc, những truyền thuyết vẫn luôn được truyền từ đời nay sang đời khác, ngàn năm không mai một, là niềm tự hào của con dân đất Việt trước chiều sâu lịch sử của đất nước. Mỗi người, mỗi đời lại tiếp nối những truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc để lịch sử đất nước còn được lưu truyền, tiếp nối mãi, răn dạy cho người đời sau những điều hay lẽ phải, những đạo lý đã có từ ngàn đời của dân tộc:

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

Gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa ngàn năm của dân tộc, đất nước là bổn phận, trách nhiệm của mỗi người con Việt Nam không phân biệt tuổi tác, giới tính, giai cấp… Nhờ có truyền thống này mà Đất Nước chính là chiều sâu văn hóa gắn liền với đời sống nhân dân. Văn hóa chính là những gì gần gũi, thân thiết nhất, là tư tưởng tình cảm, công cha nghĩa mẹ, là sự thủy chung của tình yêu đôi lứa, là truyền thống uống nước nhớ nguồn,… Văn hóa còn là những phong tục tập quán làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là tục ăn trầu, tục búi tóc, đặt tên,…

Đất Nước là những gì gần gũi, thân thuộc nhất, Đất Nước có trong mỗi con người, Nguyễn Khoa Điềm khẳng định mỗi người con dân của nước Việt đều phải có trách nhiệm với cái chung, cái thiêng liêng, lớn lao của toàn dân tộc. Đất Nước có trong anh, trong em, trong mỗi chúng ta, là một phần máu thịt, linh hồn trong ta:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Loading...

Đất nước vẹn tròn, to lớn

Trong mỗi cá nhân đều có một phần đất nước, hợp lại, chung sức chung lòng, cả một cộng đồng, một xã hội sẽ làm nên một đất nước vẹn toàn, to lớn, thống nhất và phát triển. Người đọc hoàn toàn cảm nhận được chất trữ tình, thi vị trong lời kêu gọi của nhà thơ. Từ đó, không chỉ Nguyễn Khoa Điềm mà độc giả cũng có thể rút ra được lẽ sống cho mỗi người:

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…

Lặp lại hai lần từ “phải” ở đầu hai câu thơ, tác giả đã nhấn mạnh vòa ý thức trách nhiệm của mỗi người dân đối với đất nước. Trách nhiệm ấy ngày càng đòi hỏi phải tăng tiến, từ “gắn bó” rồi “san sẻ”, “hóa thân”… đặc biệt trong thời kì đất nước đang lâm nguy, cần sự đoàn kết đấu tranh và cống hiến của tất cả mọi người. Lời nhắn nhủ của nhà thơ tới mỗi người đều chứa đựng những gì chân thành, xúc động nhất, thể hiện mong muốn gắn kết toàn bộ dân tộc bằng tình yêu đất nước tha thiết, nồng nàn.

Phân tích bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Đất nước

Đất Nước tạo được ấn tượng khó quên trong lòng bạn đọc phần lớn chính là nhờ tư tưởng mới mẻ mà sâu sắc của Nguyễn Khoa Điềm được gửi gắm trong bài thơ: Đất Nước của nhân dân. Bằng cái nhìn nghệ thuật, văn học, những danh lam thắng cảnh của đất nước hiện lên trong bài thơ không còn là những tạo vật của thiên nhiên được hình thành theo những nguyên tắc địa lý nữa, nó đã trở thành sự hóa thân của những thân phận, những ước mơ của người dân bình dị. Là cả một đời vợ chờ chồng qua bao cuộc chiến tranh, là những học trò nghèo bền gang quyết chí dùi mài kinh sử, là bao truyền thuyết gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc…

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.

Chính cái nhìn thấm đẫm tình yêu quê hương, đất nước đã đem lại cho đoạn thơ sự sâu sắc trong ý thức về nhân dân, về những con người bình thường đã góp phần làm nên đất nước để muôn đời sau, mỗi lần hai tiếng “Đất Nước” thiêng liêng vang lên, ta lại nhớ về ngàn năm văn hiến được tạo nên từ chính mỗi người dân bình dị:

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…

Một đất nước hơn bốn ngàn năm lịch sử được nhân dân gây dựng nên, ở bất kì thời đại nào, người dân cũng là những người nắm giữ vận mệnh của cả đất nước, vận mệnh của chính mỗi người. Những bà, những mẹ tóc búi sau đầu ở nhà chăm lo cho gia đình để chồng yên tâm ở nơi chiến trường đánh tan quân thù, rồi “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, chính những người phụ nữ tưởng như quanh năm chỉ biết lui cui dưới bếp ấy lại là những anh hùng dũng cảm, kiên cường đánh giặc ngoại xâm. Những người dân tay không tấc sắt trồng tre mà đánh giặc, giữ bình yên cho làng xóm, non sông. Họ là những anh hùng vô danh thầm lặng cống hiến, hy sinh. Họ không cần đến tượng đồng bia đá:

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tê

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.

Những động từ: “gánh”, “truyền”, “mang”,… được nhà thơ sử dụng đã nhấn mạnh vào vai trò to lớn của nhân dân trong công cuộc sáng tạo, gây dựng nên nền lịch sử ngàn đời của đất nước. Lịch sử được gây dựng, lưu truyền và tiếp nối trong nhân dân để ngọn lửa truyền thống không bao giờ tắt.

Nhân dân sáng tạo ra đất nước chính là sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống của chính dân tộc, góp phần làm phong phú thêm đặc trưng văn hóa của đất nước. Nhân dân sáng tạo và truyền lại cho con cháu, các thế hệ sau những kinh nghiệm trong lao động, đời sống. Nhân dân truyền lại cho đời sau tiếng nói, ngôn ngữ, truyền thống của dân tộc. Là người sáng tạo ra ca dao, tục ngữ, thành ngữ, nhân dân cũng truyền lại những kinh nghiệm, lẽ sống, những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, cách làm người cho đời sau qua chính những vần thơ, câu nói ấy. Nhà thơ chỉ lấy từ kho tàng văn học dân gian đồ sộ ba câu ca dao nhưng đó lại là những câu ca dao kết tinh toàn bộ truyền thống nhân ái, nghĩa tình và tình yêu nước tha thiết, nồng nàn của dân tộc:

Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Sáng tạo ra đất nước là nhân dân, giữ gìn và phát triển đất nước cũng chính là nhân dân:

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Tư tưởng đất nước của nhân dân thực chất đã có từ thời vua Lê đánh tan quân Minh xâm lược. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:

Nhân dân bốn cõi một nhà

Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã dựng lên tượng đài bi tráng và bất tử về những người anh hùng nông dân. Phan Bội Châu lại khẳng định sự gắn bó không thể tách rời giữa nhân dân với đất nước:

Dân là dân nước

Nước là nước dân

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm không phải là người đầu tiên quan niệm Đất Nước của Nhân Dân nhưng gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời của nó, khi mà cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt, tư tưởng này mới thực sự được khẳng định. Những cách cảm nhận mới mẻ về đất nước trên nhiều phương diện tất cả đều được chiếu rọi bởi tư tưởng “Đất Nước là của Nhân Dân”. Góp phần làm nên thành công vang dội của Đất Nước nói riêng và trường ca Mặt đường khát vọng nói chung chính là nghệ thuật thơ trữ tình chính trị cùng những chất liệu dân gian được tác giả vận dụng một cách khéo léo và hiệu quả nhất.

Hải Anh