Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử đạt điểm cao

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử

Bài làm

Tình yêu luôn là đề tài được phần đông nhà thơ, nhà văn hướng đến trong các tác phẩm của mình, Hàn Mặc Tử cũng không phải là ngoại lệ. Nhà thơ tài hoa nhưng số kiếp lận đận này có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng được độc giả yêu mến cho tới tận bây giờ, một trong số, nổi bật và đặc sắc nhất, chính là thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ được rút từ tập Đau thương- vốn có tên là Thơ điên (1938). Cũng viết về tình yêu nhưng đề tài này trong Đây thôn Vĩ Dạ lại chứa đến ba tầng cảm xúc: tình yêu, tình quê và tình đời. Bài thơ vì thế mà mang ý nghĩa sâu sắc hơn, thể hiện khát vọng vươn tới hạnh phúc mãnh liệt của nhà thơ.

Thơ Hàn Mặc Tử vốn dĩ được gọi là “Thơ điên”, “điên” ở đây không phải là một bệnh lý mà nên được hiểu như một trạng thái sáng tạo đầy hưng phấn. Ở Hàn Mặc Tử, tất cả cảm xúc, tình yêu lẫn tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng đều trở thành hưng phấn sáng tạo, là nguồn cảm hứng nghệ thuật để ông cho ra đời những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Ở thơ ông, sự hưng phấn ấy có lẽ đạt tới cực điểm khiến cách nghĩ của ông vượt ra ngoài cách nghĩ thông thường, đem đến cho bài thơ những tầng nghĩa khác nhau, độc đáo và sâu sắc. Đây thôn Vĩ Dạ chính là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ấy của Hàn Mặc Tử. Muốn tìm hiểu bài thơ, trước hết ta cần hiểu về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Trong nhan đề nhắc tới địa danh Vĩ Dạ, đây là một vùng ngoại ô thơ mộng của Huế, nổi tiếng với vườn tược bốn mùa cây xanh, và thiên nhiên mang một vẻ đẹp dịu dàng, bí ẩn, một vẻ đẹp rất Huế, bởi vậy, rất nhiều văn nhân nghệ sĩ và các hưu quan nhà Nguyễn đều lựa chọn nơi này là nơi nghỉ chân, thư thái tâm hồn, hòa mình vào thiên nhiên tươi đẹp. Với Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ là nơi ôm ấp mối tình lãng mạn mà éo le của nhà thơ với Hoàng Thị Kim Cúc- cô con gái ông chủ sở Đạc điền (Quy Nhơn) nơi nhà thơ từng làm việc. Yêu thầm người con gái xứ Huế ấy nhưng ông lại không thể thổ lộ tình cảm của mình vì giữa hai người là khoảng cách của địa vị xã hội. Không lâu sau đó, Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo rồi mắc bệnh hiểm nghèo, thi sĩ trở về Quy Nhơn nhưng không còn gặp lại Hoàng Cúc, nàng đã theo cha về Vĩ Dạ, xứ Huế. Nhà thơ đau đớn viết: “Người đi một nửa hồn tôi mất- Một nửa hồn tôi hóa dại khờ”. Biết được tấm lòng cũng như bệnh tình của nhà thơ, Hoàng Cúc đã gửi cho ông một tấm bưu ảnh cô gái Huế trèo đò trên sông Hương cùng lời thăm hỏi: “Túc hạ có được khỏe không? Bao giờ thư thả mời túc hạ về Vĩ Dạ chơi”. Xúc động trước tấm lòng son thôn Vĩ, Hàn Mặc Tử đã viết nên bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ là sự giao thoa giữa những đau đớn, điên loạn và những trong sáng, tinh khiết vô vàn của tình yêu.

Mở đầu thi phẩm, Hàn Mặc Tử đưa người đọc về thôn Vĩ, về một khu vườn thơ mộng trong hoài niệm của nhà thơ. Câu thơ đầu tiên là một câu hỏi tu từ, cũng như một lời mời mọc ẩn chứa ý  hờn trách nhẹ nhàng.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Với nhà thơ, Vĩ Dạ không chỉ là một mảnh đất đẹp, thơ mộng mà còn là một mảng đời, mảnh tình gắn liền với cuộc đời ông. Vì bệnh tình mà nhà thơ không thể trở về Vĩ Dạ, sống trong bệnh tật, bức bưu ảnh cùng những lời động viên, thăm hỏi của Hoàng Cúc trở thành nguồn sức mạnh, tình cảm xoa dịu những nỗi đau cả về thể xác và tinh thần ông. “Sao” là từ để hỏi, đặt ở đầu câu lại thể hiện sự bất ngờ, trách móc, trách nhà thơ đã quá lâu chưa về thăm thôn Vĩ, trách ông về một việc đáng lẽ phải làm từ lâu mà bây giờ liệu có còn để hoàn thành nữa hay không. Khó mà nhận định được đây là câu hỏi của cô gái Huế vang vọng trong tâm tưởng nhà thơ hay là lời nhà thơ tự hỏi chính mình, tự day dứt, dằn vặt chính mình. Do mặc cảm bệnh tật, Hàn Mặc Tử dù rất muốn nhưng cũng không thể về thăm Vĩ Dạ bởi với ông, thôn Vĩ lúc này như là một thế giới tách biệt, xa vời mà nhà thơ không thể với tới được. Ông đang bị giam trong “lãnh cung”, ở một thế giới khép kín đầy tù túng nơi phòng bệnh, thể xác như đang tan rã, linh hồn cũng khó mà tự do. Phải đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác của nó, ta mới hiểu được nỗi đau đớn của Hàn Mặc Tử  khi hướng về đất và người thôn Vĩ. Đau đớn, dằn vặt là vậy nhưng nhắc đến cái tên thôn Vĩ thân thương, trong nhà thơ vẫn dâng lên một cảm xúc khó tả, những bâng khuâng, nhẹ nhàng như một giấc mơ trưa, tất cả được biểu hiện qua cách ông sử dụng tới sáu từ có thanh bằng trong một dòng thơ bảy chữ. Lựa chọn “về chơi” thay cho “về thăm” cũng đem lại cho câu thơ sự gần gũi, thân thiết, đậm sắc thái cảm xúc. Trái tim đang dần úa tàn của Hàn Mặc Tử, nhờ có tấm bưu ảnh và lời nhắn của Hoàng Cúc, dần hồi sinh, trànđầy sinh lực, thôn Vĩ hiện lên trong hoài niệm của ông, nhờ đó cũng mang một vẻ đẹp trong trẻo, thanh khiết, tràn đầy sức sống:

Xem thêm:  Cảm nhận về bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm đạt điểm cao

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Nắng vốn là hình ảnh quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử: nắng tươi, nắng ửng, nắng điên, nắng loạn… Một lần nữa khắc họa lại nắng trong Đây thôn Vĩ Dạ, nhà thơ nhắc tới “nắng hàng cau”- ánh nắng ban mai bao trùm lên những hàng cau cao nhất trong vườn- nắng mới. Cái nắng của buổi bình minh đầy tươi đẹp ấy chiếu xuống hàng cau còn vương sương đêm, đem đến cho khu vườn một vẻ đẹp lung linh kì diệu. Với cấu trúc đặc biệt “Nắng”- “hàng cau”- “nắng”, hàng cau như chìm đắm trong ánh nắng mới tinh khôi, trong trẻo. Không biết có phải vì cảnh tượng diệu kì buổi bình minh ấy không mà khu vườn thôn Vĩ hiện lên vừa thực vừa ảo. Đại từ phiếm chỉ “ai” thật dè dặt, cũng thật xa xôi, mà làm chủ thể của khu vườn xanh mướt những loại cây tràn đầy sức sống, toàn bộ sắc xanh và vẻ đẹp đều được cô đọng trong hai từ “mướt” và “ngọc”. “Mướt” vốn là từ diễn tả sắc thái của màu xanh, Hàn Mặc Tử đảo từ này lên trước “xanh”, biến nó trở thành một tính từ diễn tả sức sống tràn trề của khu vườn, đồng thời gợi một sắc xanh ướt át, mỡ màng của lá cây còn đẫm sương đêm. Ánh mặt trời ban mai, thật đúng lúc, từ trên cao rót xuống màu xanh mướt ấy làm cả khu vườn như bừng lên ánh sáng, bừng lên một sắc xanh trong trẻo, nõn nà: “xanh như ngọc”. Trầm trồ, cảm thán trước vẻ đẹp tưởng như là vô thực ấy, nhà thơ khéo léo đặt vào giữa câu thơ một từ “quá” bộc lộ trọn vẹn cảm xúc của cả ông và bạn đọc trước một cảnh đẹp đến ngẩn ngơ, quen thuộc lắm mà chưa hết ngỡ ngàng. Cảnh đẹp, con người thôn Vĩ hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ lại càng đẹp hơn. Ở câu thơ này, hình ảnh “mặt chữ điền” đã gây ra nhiều tranh cãi và thường bị hiểu sai là khuôn mặt của một người con trai, con gái cụ thể. Tuy nhiên, do điểm đặc biệt trong bút pháp của Hàn Mặc Tử, “mặt chữ điền” thực chất chỉ là một hình ảnh được cách điệu hóa, mang tính biểu tượng, gợi tầm hồn phúc hậu, thủy chung của người dân xứ Huế, lấy ý từ bài ca dao:

Mặt em vuông tựa chữ điền

Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa, có lời thủy chung.

Loading...

Sử dụng biện pháp nghệ thuật đối lập tương phản giữa “lá trúc” thanh mảnh và khuôn mặt “vuông tựa chữ điền”, cái thanh mảnh của lá trúc làm cho cái vuông vức của khuôn mặt nhẹ đi, kín đáo hơn. Con người giao hòa với thiên nhiên, e ấp một vẻ đẹp phương Đông dịu hiền mà đầy quyến rũ. Ở khổ thơ này, thôn Vĩ hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ mang một vẻ đẹp đơn sơ mà lộng lẫy của một thế giới đã xa vời. Sự ngang trái này khiến cho khổ thơ đắm say, rạo rực trên bề nổi mà lặn chìm vào bề sâu một niềm đau khắc khoải trước cái đẹp đẽ nhưng xa vời.

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Đối lập với khu vườn tươi đẹp, tràn đầy sức sống sớm bình minh, ở khổ thơ thứ hai, sông Hương hiện lên vào một đêm trăng, mang nặng nỗi lòng của tác giả. Không còn là sự mê đắm, say sưa đầy thi vị nữa, hiện thực dường như đã đánh thức Hàn Mặc Tử khỏi giấc mơ trưa ngắn ngủi, đưa ông về với hiện thực chia lìa, xa cách. Nghĩ đến khoảng cách giữa mình và người thôn Vĩ, hồn thơ Hàn Mặc Tử chợt rơi vào một miền đau thương, những tan tác, chia lìa bủa vây trái tim vừa được hồi sinh của ông:

Xem thêm:  Vì sao Xuân Diệu lại đặt tên bài thơ là Vội vàng? Có người cho bài thơ là lời tự bạch của thi nhân trước cuộc đời lúc bấy giờ. Ý kiến của anh (chị) như thế nào?. Hãy lí giải và chứng minh qua bài thơ

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…

Rất nhiều người vì đắm chìm trong cảm xúc chia lìa của câu thơ mà không hề nhận ra điều nghịch lý. Gió và mây vốn dĩ không thể tách rời, gió thổi mây bay cùng chiều, thế nhưng nhà thơ lại ngắt nhịp 4/3 cho câu thơ đầu tiên, chia cách gió và mây. Điều tưởng chừng như là vô lý này lại thể hiện được xúc cảm về sự tan vỡ, chia lìa đang tràn ngập trong tâm hồn tác giả, khiến ông để cho gió mây đôi ngả. Cấu trúc độc đáo của câu thơ như nhấn mạnh thêm sự chia ly, tan vỡ khi nhà thơ đóng khung vế đầu trong hai chữ “gió”: “gió theo lối gió” và vế sau cũng tương tự: “mây đường mây”. Mây- gió, ngoảng mặt hai nơi, lòng đóng kín trước lòng. Xúc cảm chia lìa làm lòng người trĩu nặng, câu thơ thứ hai với nhịp thơ chậm rãi, buồn như nhịp điệu Huế đã mở rộng không gian của cuộc chia ly- gió, mây nay còn có thêm dòng nước. Dòng nước ấy đã từng vui cùng gió, mây, khi gió- mây chia đôi ngả, dòng nước cũng “buồn thôi”, một mình ngẩn ngơ, cô độc trong đêm. Ngay khi nhận thấy bên dòng sông còn có những bông hoa bắp lay động trong gió, người đọc có lẽ đều hy vọng cảnh sông trong đêm sẽ bớt buồn một chút, nhưng thật khó đoán trước, chính những bông hoa bắp ấy lại chỉ lay động vật vờ trong gió, càng khiến cho cảnh càng buồn thấm thía. Chỉ dùng duy nhất một từ “lay” để diễn tả trạng thái của hoa bắp, sự vật càng trở nên uể oải trong nỗi buồn, sự cô đơn của xúc cảm chia lìa bao trùm cả khổ thơ. Cảnh hiện lên trước mắt bạn đọc thật thi vị, lãng mạn nhưng cũng mang một nỗi buồn chia ly thấm thía. Trước nỗi lòng nặng trĩu ấy, bản thân Hàn Mặc Tử cũng mong có thể lãng quên đi phần nào nỗi u sầu, nhà thơ tìm đến vẻ đẹp của trăng như tìm đến người bạn tri kỉ lâu năm:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

Vốn là một thi sĩ yêu trăng, hình ảnh trăng đầy ắp trong cả hai câu thơ: thuyền trăng, sông trăng, bến trăng. Hình ảnh “thuyền chở trăng” đầy thi vị từng xuất hiện nhiều trong thi ca như:

Gió trăng chứa một thuyền đầy

Của kho vô tận biết ngày nào vơi

(Nguyễn Công Trứ)

hay:

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

(Hồ Chí Minh)

Cũng mang nét quen thuộc như thế nhưng ở hình ảnh “dòng sông trăng”, ta còn thấy được sự mới lạ, vừa hiện thực vừa siêu thực mang đậm phong cách thơ Hàn Mặc Tử. Sông trăng là ánh trăng tỏa đầy dòng sông hay cũng chính là ánh trăng tuôn chảy thành dòng sông trăng, dòng sông của ánh sáng. Cảnh đẹp như vậy nhưng trong giây phút mơ mộng, nhà thơ dường như vẫn nặng lòng, khắc khoải, lo âu vì sự muộn màng. Ông sợ trăng không về kịp để xoa dịu nỗi đau của một linh hồn bất hạnh. Câu thơ là lời băn khoăn, tự hỏi nhưng cũng như một lời khẩn cầu chứa cả khát vọng nồng cháy lẫn sự hoài nghi. Toàn bộ khổ thơ chìm trong nỗi đau, nỗi đau của sự chia ly, xa cách, nỗi đau của niềm hy vọng lại hóa thành sự thất vọng, thậm chí là tuyệt vọng. Nhìn sâu hơn nữa vào những câu thơ đầy xúc cảm buồn bã, người đọc lại giật mình nhận ra, trên tất cả cảnh chia lìa, thất vọng ấy là một vầng trăng Huế. Đêm trăng, Huế vẫn rất đẹp, một vẻ đẹp buồn đến đau lòng. Phải là yêu Huế đến nhường nào, Hàn Mặc Tử mới nhận ra Huế sâu sắc đến thế để nhà thơ dựa vào tình yêu quê hương ấy như dựa vào một điểm tựa đáng tin cậy sẽ luôn tồn tại trong trái tim ông.

Khu vườn thôn Vĩ mộng mơ, đêm trăng xứ Huế bên sông Hương buồn thấm thía rồi đến vẻ đẹp của khách đường xa, tất cả đều là hình ảnh thắm sắc của thế giới ngoài kia, trong đó, hình ảnh khách đường xa là hình ảnh gây ấn tượng đậm nét với người đọc nhất, cũng là hình ảnh gây nhiều tuyệt vọng và xót xa nhất. Cho đến khổ thơ này, hình ảnh người con gái xứ Huế đã hiện lên gần như là trực tiếp trong những vẫn thơ của Hàn Mặc Tử, nhưng lại vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi vừa xa vời:

Xem thêm:  Văn thuyết minh: Em hãy thuyết minh về cây kéo

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra…

Nhà thơ cũng đã từng có những vần thơ hay về người con gái Huế:

Cô gái thẫn thờ vê áo mỏng

Nghiêng nghiêng vành nón đứng chờ ai

Ven bờ sông phẳng con đò mộng

Lả lướt đi về trong sớm mai.

Hiện lên trong thơ Hàn Mặc Tử đầy hư ảo, người con gái xứ Huế chỉ được gọi với danh từ “khách”. Sự xa xôi ấy còn được thể hiện trong cách nhà thơ dùng biện pháp tu từ điệp ngữ, lặp lại “khách đường xa” tới hai lần như để nhấn mạnh vào sự xa cách, cũng đồng thời khiến cho sự xa cách ấy như trở đi trở lại, khiến cho tâm trạng nhà thơ thêm buồn, thêm tuyệt vọng. Tất nhiên, tất cả những hình ảnh ấy đều chỉ là một giấc mơ, của tác giả. Ông mơ được về thăm thôn Vĩ, được gặp những cô gái Huế trong tà áo dài trắng dịu dàng, thanh thuần với vẻ đẹp làm nhòa đi cả thị giác nhà thơ, hoặc cũng có thể Hàn Mặc Tử nhìn không ra vì sắc trắng ấy đã nhạt nhòa trong hoài niệm, mờ đi trong tâm thức. Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên vì thế mà vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi lại vừa xa vời khi giờ đây, hai người đã ở hai thế giới hoàn toàn khác biệt, khoảng cách không gian và là quá lớn. “Khách đường xa” điệp lại hai lần như càng đẩy người vào xa cách. Nếu như bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi phảng phất chút tình riêng: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” thì cuối bài thơ cũng là một câu hỏi mang nỗi niềm riêng, đầy ngậm ngùi:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

 “Ở đây” chính là nơi Hàn Mặc Tử đang chữa bệnh- nơi mà sươn khói của thời gian, nỗi buồn đau, tuyệt vọng của một thi nhân khát khao yêu và được yêu nhưng lại phải sống tách biệt với thế giới bên ngoài bao phủ. Khoảng cách giữa nhà thơ và nhân vật “em” không còn chỉ là khoảng cách giữa thời gian, không gian, mà là khoảng cách giữa bóng tối và ánh sáng. Em là ánh sáng còn tôi giờ đây đã ở trong bóng tối, một người ở ngoài ánh sáng như em sao có thể “đậm đà” với người trong bóng tối như tôi? Câu hỏi tu từ hỏi mà không cần lời giải đáp, nhưng dường như chính câu hỏi này lời giải đáp cũng sẽ đem đến nỗi đau cho tác giả. Nỗi đau quặn thắt ngay cả khi không muốn nhận câu trả lời. Càng đau lòng hơn khi câu hỏi cuối cùng này dường như lại chính là câu trả lời cho câu hỏi mở đầu bài thơ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Không về chơi không phải vì khoảng cách địa lý xa xôi, cũng chẳng phải do bệnh tình nhà thơ không cho phép, không về chơi thôn Vĩ là bởi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Bạn đọc như được đau đớn, tuyệt vọng của một thi nhân khát khao yêu và được yêu nhưng lại không tin vào hạnh phúc, từ đó cũng càng ngưỡng mộ hơn vẻ đẹp tâm hồn Hàn Mặc Tử. Yêu một người con gái, viết nên những vần thơ tràn đầy tình cảm về người con gái ấy nhưng nhà thơ lại chỉ dám xa xôi mà gọi “vườn ai”, “thuyền ai”, “tình ai”, vừa tạo sự mơ hồ, xa vắng vừa thể hiện sự dè dặt, kín đáo của ông.

Mang trong mình khát vọng vươn tới hạnh phúc ngay cả khi bị cách ly vì mắc bệnh hiểm nghèo nhưng bất hạnh hay, ông mãi không thể với tới hạnh phúc. Bài thơ không chỉ nói lên tấm lòng luôn cháy bỏng khát khao yêu và được yêu, mà còn thể hiện một hoàn cảnh éo le đầy chua xót khi tình yêu lại gắn liền với nỗi đau. Có thể viết nên được một thi phẩm tràn ngập cảm xúc, chạm đến trái tim người đọc, khiến ta trăn trở mãi ngay cả khi đã gấp trang thơ lại rồi, Hàn Mặc Tử quả là một hồn thơ lớn và lạ. Một nhà thơ “điên”!

Hải Anh