Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của Huy Cận đạt điểm cao

0
Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Bài làm

Trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Quảng Ninh giữa năm 1958, có một bài thơ mới lạ về thiên nhiên, vũ trụ và con người lao động đã ra đời. Bài thơ là một bức tranh toàn cảnh về khung cảnh thiên nhiên và con người lao động qua cái nhìn của nhà thơ- Đoàn thuyền đánh cá. Tác giả của thi phẩm ấy không ai khác ngoài nhà thơ Huy Cận– một trong những nhà thơ hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam.

Những câu thơ mở đầu bài thơ cũng chính là những câu thơ miêu tả cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá. Đặc biệt hơn, tác giả lại tả khung cảnh thiên nhiên trước khi bắt đầu khắc họa hình ảnh con người lao động:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

Ngay từ những nét vẽ đầu tiên trong bức tranh của mình, tác giả đã khắc họa một cảnh tượng kì vĩ, tráng lệ với mặt trời, sóng và màn đêm. “Mặt trời xuống biển” như con người trở về ngôi nhà của mình sau một ngày dài làm việc. Ta có thể hiểu được điều đó qua biện pháp tu từ nhân hóa với từ “xuống” vốn để chỉ hoạt động của con người nay lại được dùng để miêu tả mặt trời. Không chỉ có biện pháp nhân hóa được sử dụng mà nhà thơ còn so sánh mặt trời với “hòn lửa”- một sự vật có cả hình dạng và màu sắc. Hình ảnh độc đáo và ấn tượng này chính là lời thông báo của thiên nhiên, vũ trụ: một ngày đang dần trôi qua. Một lần nữa, tác giả lại sử dụng biện pháp nhân hóa, biến những con sóng thành then cài của cánh cửa màn đêm đang dần đóng sập lại. Thiên nhiên đóng lại cánh cửa của ngôi nhà vũ trụ, chuẩn bị cho một giấc ngủ say. Con người cũng vậy, họ đang dần chìm vào giấc ngủ sau một ngày lao động mỏi mệt. Vậy mà, kì lạ là vào thời điểm ấy lại có những người bắt đầu làm việc: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”. Không phải là “những chiếc thuyền” mà nhà thơ lại viết “đoàn thuyền” thể hiện sức mạnh tập thể, sức mạnh của những con người lao động ra khơi với khí thế hào hùng, mạnh mẽ. Lao động trong đêm, lại ở trên biển cả đầy sóng gió, chắc chắn là sẽ vô cùng mệt nhọc, vậy mà ta vẫn bắt gặp “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”. Câu hát như khúc ca, là sức mạnh tinh thần, là lực đẩy của đoàn thuyền và con người lao động. “Câu hát” cũng chính là ẩn dụ cho những người dân chài ra khơi với quyết tâm chinh phục thiên nhiên. Với biện pháp tu từ nói quá, hình ảnh đoàn thuyền và những người dân lao động hiện lên với niềm vui, sự phấn chấn khi bắt đầu một ngày lao động mới. Thên nhiên góp gió còn con người góp sức cùng niềm lạc quan và khí thế hào hùng đẩy con thuyền với cánh buồm căng gió phăng phăng ra khơi bắt đầu công cuộc chinh phục vũ trụ bao la, rộng lớn. Tiếng hát ra khơi vẫn cứ vang mãi cùng những ngư dân ra biển để ca ngợi sự giàu có của biển khơi. “Cá bạc” với “cá thu” như những đứa con của biển đua nhau khoe sắc dưới làn nước trong mát lạnh, dưới ánh trăng vàng lung linh, huyền ảo. Cá thu được nhà thơ so sánh như đoàn thoi lao đi vun vút tạo nên ánh sáng kì ảo trên mặt biển tĩnh lặng, trong màn đêm đen dặc. Nhà thơ mường tượng như chúng đang cùng dệt nên một tấm thảm ánh sáng trải dài trên mặt biển. Ngạc nhiên, phấn khích đã khiến nhà thơ phải thốt lên: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”. Hành động “đến dệt lưới ta” được đảo lên trước lời gọi cá như muốn nhấn mạnh vào sự chờ đợi của những ngư dân và cả của chính tác giả khi hồi hộp quăng lưới. Câu thơ cũng chính là lời gọi của những con người lao động, gọi cá vào lưới như gọi một người bạn để buổi ra khơi được thuận lợi, bắt được thật nhiều cá tôm trang trải cho cuộc sống.

Tuy nhiên, tâm điểm của bức tranh lại là cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển. Hình ảnh con thuyền và con người sừng sững giữa biển khơi như thống trị cả thiên nhiên, vũ trụ:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Con thuyền như điều khiển cả thiên nhiên khi có gió làm lái, trăng làm buồm. Cả con thuyền không còn chỉ đơn thuần là lướt trên mặt biển nữa mà dường như đang bay giữa khoảng không rộng lớn. Con người vốn nhỏ bé trước thiên nhiên mà nay, qua thơ Huy Cận, bỗng trở thành những vị vua của biển khơi, cùng con thuyền của mình thống trị cả đại dương bao la, rộng lớn. Đọc đến đây, ta lại chợt nhớ đến hình ảnh con thuyền trong “Quê hương” của Tế Hanh:

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Hình ảnh con thuyền trong cả hai câu thơ đều như đang bay trên mặt biển. Đó cũng chính là hình ảnh con người lao động đánh cá trên biển với một sức mạnh tưởng như không gì có thể lay chuyển được. Những động từ: “đậu”, “dò”, “dàn đan”, “vây”, “giăng” gợi ra những hành động mang tính chủ động của đoàn thuyền và của con người. Mỗi ngư dân trên ngư trường như những người lính ngoài chiến trường, họ hoàn toàn nắm thế chủ động và giành chiến thắng trước biển cả, thiên nhiên. Con thuyền hay con người lao động như những nhà thám hiểm đang khám phá những vùng đất mới. Hình ảnh con người làm chủ khung cảnh thiên nhiên kì vĩ, lớn lao, thống trị cả không gian hiện lên với niềm tự hào, kiêu hãnh, sức mạnh tập thể trong công cuộc chinh phục biển khơi:

Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Không chỉ được miêu tả gián tiếp qua hình ảnh con thuyền, những con người lao động còn được Huy Cận khắc họa rõ nét và chân thực hơn bằng cách miêu tả trực tiếp qua khổ thơ:

Ta hát bài ca gọi cá vào,

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao,

Biển cho ta cá như lòng mẹ,

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Loading...

Một lần nữa, tiếng hát lại vang lên. Những con sóng nhấp nhô, dập dềnh xô vào mạn thuyền, ánh trăng lại soi xuống mặt nước tạo cảm giác như trăng đang gõ vào thuyền: gõ nhịp, bắt nhịp cho “bài ca gọi cá” của ngư dân. Con thuyền được trăng gõ nhịp đã sánh ngang tầm với vũ trụ. Con người không còn nhỏ bé trước vũ trụ rộng lớn mà họ đã trở thành những người lao động đã và đang chinh phục được thiên nhiên, vũ trụ. Ở họ, ta không chỉ cảm nhận được sức mạnh, ý chí quyết tâm trong công cuộc chinh phục thiên nhiên mà còn có cả lòng biết ơn. Với lòng biết ơn ấy, Huy Cận đã bộc lộ rõ nét vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn của những người dân chài lưới qua hình ảnh so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: “biển” và “lòng mẹ”. Lòng mẹ không phải là sự vật hữu hình nhưng lại không ai là không cảm nhận được sự ấm áp của lòng mẹ. Biển đối với những người ngư dân cũng vậy, gần gũi, thân thiết và rất đỗi thiêng liêng, biển cũng như tình mẹ, là điều gắn bó nhất trong cuộc đời mỗi con người. Với những người lao động, biển che chở, nuôi lớn, đem đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho họ như một người chăm lo, nuôi dưỡng đứa con yêu quý của mình. Hai câu thơ cuối của khổ thơ như những lời người ngư dân dành cho mẹ biển cả để thể hiện tình yêu thương, sự kính trọng và biết ơn vô bờ bến của họ tới Người. Có thể nói, hình ảnh con người lao động mà tác giả muốn xây dựng là những con người vừa có sức mạnh trong lao động, như để đại diện cho sự đổi mới của đất nước khi bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội; vừa giữ được mối giao hòa giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ rộng lớn. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” quả là sự kết hợp hài hòa giữa ngòi bút hiện thức và ngòi bút lãng mạn, từ đó miêu tả đời sống vật chất và cả tinh thần của những người dân chài đêm ngày bám biển. Bên cạnh hình ảnh con người, Huy Cận cũng đã khắc họa thành công vẻ đẹp của thiên nhiên với sự giàu có của biển khơi:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

Trong cùng một dòng thơ mà tác giả liệt kê đến ba loại cá, riêng cá song lại được tách ra để miêu tả kĩ hơn ở câu thơ thứ hai vì vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của nó. Nước và lửa vốn đối lập nhau, thế mà cá song vẫn có thể thắp đuốc đen hồng lấp lánh dưới biển. Thật kì diệu, thật rực rỡ! Tuy nhiên, đến câu thơ thứ ba, vẻ đẹp và sự kì diệu của biển cả mới được đẩy lên đến đỉnh điểm với cách miêu tả của Huy Cận: “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”. Dùng đại từ “em” để nhân hóa cá, nhà thơ đã biến chúng trở thành những nàng tiên cá xinh đẹp, kiều diễm. Vẻ đẹp của nàng khiến ánh trăng cũng như đẹp hơn, biển như dát vàng, lộng lẫy và sang trọng, một vẻ đẹp đậm chất cổ tích, tới nỗi “Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”. Trong cùng một câu thơ, tác giả đã sử dụng liên tiếp hai biện pháp nhân hóa để miêu tả màn đêm và sao mà thực chất là mặt biển. Hơi thở của màn đêm như vang vọng trong không gian rộng lớn cùng với những làn sóng nhẹ trên mặt nước bập bềnh như những ngôi sao đang lùa nước biển Hạ Long. Cả trời và nước tràn ngập ánh sao đêm với những loài cá đa dạng, phong phú bơi lội tung tăng. Biển dường như không còn là nơi để ngư dân đánh bắt cá nữa mà nó đã trở thành nơi tổ chức dạ tiệc sang trọng như cung điện của nhà vua mà những khách mời tham gia buổi tiệc nhộn nhịp ấy chính là các loài cá, màn đêm, mặt nước, ánh trăng, các vì sao và cả con người lao động. Từ đó, tác giả càng làm nổi bật lên sự tự hào, ngợi ca về tài nguyên vô tận của đất nước. Tất cả những vẻ đẹp ấy của biển khơi đều được gợi nên từ tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương và sự liên tưởng phong phú của Huy Cận.

Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của Huy Cận đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Một buổi đi đánh bắt cá dần kết thúc, đã đến lúc màn đêm phải lui về, nhường chỗ cho những tia sáng đầu tiên từ mặt trời, đó cũng là lúc con người dang dần chuẩn bị thu lưới trở về:

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,

Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Nhà thơ đã vô cùng khéo léo khi sử dụng thủ pháp tương phản- mượn hình ảnh của không gian bầu trời với “sao mờ” để gợi ra bước đi của thời gian- “trời sáng”. “Kịp” như một lời giục giã gợi ra bầu không khí khẩn trương, chạy đua với thời gian của những người ngư dân luôn hết mình vì công việc. Với những câu thơ giàu chất tạo hình, khắc họa vẻ đẹp hình thể khỏe mạnh, vững chãi của những người dân chài, họ như những bức tượng đồng được tạc giữa biển khơi với những bắp tay cuồn cuộn cơ, thân hình vạm vỡ, khỏe khắn đặc trưng của ngư dân. Không chỉ gợi ra vẻ đẹp hình thể, câu thơ còn gián tiếp thể hiện thành quả mà những con người lao động đã đạt được, họ đã thu được một mẻ lưới bội thu, Nếu như hai câu thơ trên là bức chân dung về thiên nhiên và con người lao động thì hai câu thơ kết của khổ thơ lại là một bức tranh sơn mài rực rỡ. Những mảng màu được phối hợp hết sức hài hòa với màu bạc của vảy cá, màu vàng của đuôi cá và màu hồng của nắng. Không gian ấy thật dễ khiến người ta cảm thấy rộn rã, náo nức, quên hết mọi mệt nhọc. Dường như vẻ đẹp ấy còn có thể sánh ngang với vàng, bạc và ánh mặt trời của biển. “Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”- một loạt các hoạt động được miêu tả lần lượt với các động từ: “xếp”, “lên”, “đón” thể hiện sự gấp rút, hối hả của đoàn thuyền khi chuẩn bị khép lại một đêm lao động trên biển khơi để đón những ánh nắng đầu tiên của một ngày mai tươi sáng.

Ở khổ thơ cuối, ta một lần nữa bắt gặp những hình ảnh quen thuộc, đó là câu hát, là gió khơi, đoàn thuyền, mặt trời. Tất cả những sự lặp lại ấy đã tạo nên kết cấu đầu- cuối tương ứng cho cả bài thơ:

Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

Mở là câu hát, kết cũng là câu hát, Huy Cận đã tạo được sự liền mạch trong dòng cảm xúc của độc giả cũng như của chính ông trong bài thơ, từ đó, làm nổi bật được chủ đề của bài thơ. Tiếng hát lúc trước vang lên ở dòng cuối của khổ thơ đầu nay lại vang lên ở dòng đầu tiên của khổ thơ cuối với khí thế vẫn rất hào hùng, mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu như ở khổ thơ đầu, nhà thơ dùng quan hệ từ “cùng” thì tới cảnh đoàn thuyền trở về, ông lại thay bằng từ “với”. “Với” là thanh trắc còn “cùng” lại là thanh bằng, bằng sự thay đổi nhỏ này, nhà thơ đã gợi lên được âm điệu khỏe khoắn, rộn ràng, vui tươi của đoàn thuyền đang tiến về đất liền. Sau cả một đêm lao động trên biển, họ vẫn hừng hực khí thế, tràn trề sinh lực cả về thể chất lẫn tinh thần. Quả thật là đáng ngưỡng mộ! Không những không mệt mỏi, những người ngư dân còn tham gia cuộc chạy đua với mặt trời để rồi dành được chiến thắng trước thiên nhiên, vũ trụ. Có lẽ cũng bởi vậy mà hai câu thơ cuối bài thơ tràn ngập ánh sáng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của cả trời, nước. Khung cảnh thiên nhiên và cảnh biển rộng lớn với mặt trời ấy, tất cả thu vào trong mắt cá: “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Những mắt cá ấy cũng như muôn nghìn mặt trời nhỏ tỏa ánh sáng rực rỡ báo hiệu không chỉ một ngày mới đã đến mà còn là một tương lai mới, một cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc hơn khi người dân được làm chủ cuộc sống của chính mình. Ta chợt nhớ tới tên của cả tập thơ, quả là “Trời mỗi ngày lại sáng”! Đã khép lại khổ thơ cuối, khép lại cả bài thơ mà tiếng hát dường như vẫn ngân vang, ánh sáng vẫn tiếp tục bừng lên, lòng người rộn ràng cùng niềm vui bất tận.

“Đoàn thuyền đánh cá” là một bài thơ hiện đại, dưới ngòi bút hiện thực của Huy Cận lại trở nên vô cùng thi vị, lãng mạn, giàu chất nhạc và hoa. Bài thơ cũng là lời ngợi ca của Huy Cận về vẻ đẹp và sự giàu có của thiên nhiên, Tổ quốc; về sức mạnh của những con người lao động tưởng như bình thường nhưng lại phi thường khi đang ngày ngày hết mình cống hiến cho đất nước. Chắc chắn câu hát xuyên suốt cả bài thơ, cả buổi đi đánh bắt cá của ngư dân sẽ còn vang vọng mãi cho đến mãi mai sau.

Hải Anh