Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí

Bài làm

Sự xuất hiện của Nguyễn Du trong nền văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung đã để lại cho dân tộc rất nhiều những tuyệt tác ca ngợi, đề cao giá trị con người trong xã hội phong kiến xưa. Bên cạnh Truyện Kiều, tác phẩm gắn liền với tên tuổi Nguyễn Du, ông còn có nhiều sáng tác thuộc các thể loại khác cũng thành công vang dội, nổi bật trong số đó là bài thơ chữ Hán nổi tiếng đã bộc lộ được những cảm xúc xót thương, day dứt của Nguyễn Du đối với nỗi oan của những kiếp tài hoa- Độc Tiểu Thanh kí.

Bài thơ được Nguyễn Du viết dựa trên một câu chuyện có thật về một người con gái thông minh lại nhiều tài nghệ tên là Tiểu Thanh, người Quảng Lăng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nàng phải làm vợ lẽ người ta từ năm mười sáu tuổi nhưng lại bị vợ cả ghen, bị bắt ở riêng biệt trên núi. Sống cô độc nơi hẻo lánh, ngày ngày nàng chỉ có thể làm thơ, từ, làm bạn với văn chương. Buồn thay, khi nàng lâm bệnh rồi qua đời khi mới mười tám tuổi, người vợ cả đã đem đốt hết thơ, từ của nàng. May mắn là trước khi chết, Tiểu Thanh đã lấy hai tờ bản thảo thơ, từ gói mấy vật trang sức gửi tặng một cô gái, nhờ vậy mà chín bài tuyệt cú, một bài cổ thi và một bài từ của nàng còn được lưu giữ và truyền lại cho người đời sau. Trong một lần đi sứ qua Tây Hồ, Nguyễn Du đã đến thăm mộ Tiểu Thanh, đọc những thi phẩm còn sót lại của nàng, từ đó viết nên Độc Tiểu Thanh kí với những cảm xúc sâu lắng. Viết theo thể thất ngôn bát cú nên bài thơ được chia làm bốn phần như thường lệ, gồm Đề- Thực- Luận- Kết.

Đọc hai câu Đề mở đầu bài thơ, có lẽ ai cũng sẽ những cảm xúc bùi ngùi, nuối tiếc khó tả.

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

“Hoa uyển” chỉ cảnh đẹp, “Tây Hồ hoa uyển” chính là chỉ cảnh đẹp ở Tây Hồ. Khung cảnh thiên nhiên đẹp đến động lòng người hay chính là vẻ đẹp về cả nhan sắc tài năng và nhân cách của người con gái ở Tây Hồ đã khiến không chỉ Nguyễn Du mà bất kì ai đã từng đặt chân qua chốn này, từng nghe qua câu chuyện thương tâm về nàng Tiểu Thanh đều phải thổn thức. Cảnh đẹp là thế nhưng thời gian trôi qua đã hóa bụi tất cả, người đẹp là thế nhưng sóng gió, biến động ập đến đã phá tan tất cả. Vế trước, cảnh và người vẫn còn là “hoa uyển” thì ngay ở vế sau bỗng chốc đã “tẫn thành khư”, trở thành gò hoang lạnh lẽo. Người con gái năm đó đang độ tuổi thanh xuân lại bị lưu biệt ở nơi núi cao, ngày ngày chỉ biết sống trong buồn khổ mà làm bạn với văn chương, giờ đây cũng chỉ còn là một nắm tro tàn. Cùng là kẻ làm thơ, Nguyễn Du cảm thương cho số phận nàng Tiểu Thanh, đến thăm mộ nàng lại chỉ có thể viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ. Tuy thế mà càng đọc, nhà thơ lại càng hiểu thêm về cuộc đời của Tiểu Thanh, càng đắm chìm vào số phận nghiệt ngã của kẻ tài hoa, càng thương cảm lại càng xót xa, tiếc nuối cho một người tài phải ra đi khi còn quá trẻ. Ngồi trước song cửa sổ, đọc từng vần thơ nàng để lại, Nguyễn Du tưởng như chính mình đang hóa thân thành nàng Tiểu Thanh năm nào, ngồi trước cửa sổ, ánh mắt buồn cô độc nhìn ra khung cảnh rộng lớn ngoài kia, mặc cho thân thể bị giam lỏng nhưng tâm hồn vẫn tự do cùng trời đất. Vừa ngưỡng mộ tài hoa của nàng, ta lại vừa cảm thương cho một số phận bi kịch.

Người tuy đã mất nhưng những đồ vật nàng đã dùng thì vẫn còn ở đó, để lại niềm xót thương cho người đời sau:

Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

“Chi phấn”- son phấn hay chính là đại diện cho nhan sắc, cho người phụ nữ thì “hữu thần”- vẫn còn đó mặc cho người đã sớm đi xa. Câu thơ như một lời khẳng định, câu chuyện về cuộc đời, nhan sắc và tài hoa của Tiểu Thanh sẽ còn được người đời sau lưu truyền mãi. Người xưa quan niệm con người chết đi chính là khi hồn lìa khỏi xác, thể xác đã không còn nhưng hồn thì vẫn còn đó, vẫn có thể nhìn thấu mọi việc trên thế gian. Son phấn tuy là những vật vô tri vô giác nhưng lại “hữu thần” mà “liên tử hậu”, mà xót xa vì những gì mà chủ nhân nó phải chịu đựng ngay cả khi đã không còn trên dương thế nữa. Khi Tiểu Thanh mất, người vợ cả đã đem đốt hết thơ, từ mà nàng làm trong suốt hai năm bị giam lỏng trong cô đơn trên núi cao hẻo lánh. Văn chương nàng viết ra, thật bất hạnh, phải chịu sự hủy hoại của người khác, chỉ có thể dựa vào những phần tàn hiếm có còn lại mà lưu truyền đến người đời. Người thấy xót thương là chuyện dễ hiểu, mà ngay đến cả những vật vô tri vô giác cũng cảm thấy uất hận, xót xa. Uất hận vì dù chỉ là những đồ vật không có hồn phách, số mệnh nhưng cũng không thoát khỏi cảnh bị tàn phá, xót xa cho số phận nàng Tiểu Thanh khi còn sống đã phải chịu bất hạnh mà ngay cả khi đã mất đi rồi vẫn không thoát khỏi đau khổ. Những nghẹn ngào, uất ức bị kìm nén như thổn thức mà bật ra theo từng câu, từng chữ, từng ý thơ.

Loading...

Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí

Từ những thương cảm, xót xa ấy, Đại thi hào Nguyễn Du đã phải thốt lên những tiếng thổn thức, nói lên nỗi lòng nàng Tiểu Thanh, cũng chính là điều ngang trái mà mình trăn trở bấy lâu:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn,

Phong vận kì oan ngã tự cư.

Nếu như trong Truyện Kiều, “cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” chỉ để nhắc tới thân phận người phụ nữ có nhan sắc trong xã hội phong kiến thì ở Độc Tiểu Thanh kí, số phận của những người tài hoa cũng bị cuốn vào bi kịch trớ trêu ấy. Tiểu Thanh là một cô gái trẻ, có nhan sắc, lại có tài năng, nàng lẽ ra phải được hưởng một cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy, nhưng cũng giống như Thúy Kiều, số mệnh trắc trở khiến cuộc đời nàng trở nên bi kịch. Đáng buồn hơn, số mệnh ngang trái đầy bi kịch ấy cũng chính là số mệnh mà những người tài hoa không tránh khỏi. Chẳng phải do Nguyễn Du quá đắm chìm vào câu chuyện cuộc đời buồn khổ của nàng Tiểu Thanh mà sinh ra ý nghĩ ấy, vốn dĩ “Trăm năm trong cõi người ta- Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, số phận bạc bẽo, trắc trở của người tài từ trước đến nay vốn đã luôn là như thế, từ xưa đã vậy, ngày nay và có lẽ là cả mai sau cũng sẽ không thay đổi. Đau lòng thay, có phải chăng do ông trời ghen ghét những người tài nên mới để họ sống một cuộc sống bi kịch đến thế? Nguyễn Du đã không khỏi đau đớn mà thốt lên những lời thổn thức thấu tâm can, xen lẫn cả uất hận trong đó, đem câu hỏi cùng niềm thương xót của mình mà “vấn” cả ông trời. Tiếng kêu ấy như thấu cả trời xanh.

Từ tất cả những niềm thương cảm, xót xa đầy đau đớn ấy, Nguyễn Du không khỏi nghĩ đến chính bản thân mình. Câu chuyện về cuộc đời bi kịch của nàng Tiểu Thanh đã khiến ông phải giật mình mà đặt ra câu hỏi:

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Số phận bi kịch của nàng Tiểu Thanh, những buồn khổ cùng cô đơn, uất hận mà nàng phải chịu trong suốt cuộc đời của mình hiện lên qua từng bài thơ, từ trong tập sách mà Nguyễn Du đọc bên cửa sổ khơi gợi lên sự xót thương từ nhà thơ, cũng khiến ông không khỏi đồng cảm với cái điều “phong vận kì oan”. Phải chăng cuộc đời ông cũng khó mà tránh khỏi cái điều bạc mệnh đã có từ ngàn đời ấy? Tiểu Thanh sau khi chết đi rồi, thơ từ bị đốt hết, cũng chỉ có thể dựa vào hai tập thơ, từ may mắn còn sót lại cùng sự thương xót của người đời mới được nhớ tới như bây giờ. Có thể cho là nàng còn có chút may mắn. Nguyễn Du nhìn lại cuộc đời mình, không khỏi tự vấn, liệu rằng số phận của mình có giống như nàng, trớ trêu, bi kịch, liệu rằng sau khi ông đã không còn nữa, những sáng tác của ông có còn được giữ lại như một chút tôn trọng cuối cùng người ta dành cho người đã khuất? Liệu rằng thời gian trôi qua, sau ba trăm, năm trăm năm nữa, người đời có còn ai nhắc đến cái tên Tố Như, có còn ai thương cảm, xót xa cho một cuộc đời nhiều sóng gió của ông như người ta đang xót thương cho nàng Tiểu Thanh? Vấn như vậy không phải là Nguyễn Du tự đề cao, coi trọng bản thân, tự cho mình là người tài, dường như đó chỉ là chút nỗi niềm tự thương của kẻ làm thơ, tự thấy mình nhỏ bé trước cuộc đời, số mệnh, đồng thời cũng ngầm trách trời cao, trách số phận luôn bạc bẽo với người tài hoa. Câu hỏi “bất tri” ẩn chứa những tâm trạng khó mà diễn tả của nhà thơ đầy ám ảnh, để lại dư âm trong tâm trí bạn đọc ngay cả khi đã khép lại trang thơ.

Chỉ là một chuyến thăm viếng tình cờ thế nhưng lại để lại những tâm trạng xúc động cùng thương cảm, xót xa trong lòng Nguyễn Du về câu chuyện cuộc đời đầy bi kịch của nàng Tiểu Thanh. Qua ngòi bút thấm đẫm nước mắt của Nguyễn Du, ta như nghe được cả tiếng thổn thức, nghẹn ngào đầy uất hận của Tiểu Thanh, của nhà thơ mà có lẽ cũng là của chính bạn đọc. Khép lại trang thơ, ta lại trăn trở với một câu hỏi lớn, liệu rằng ngày nay có còn cái gọi là “phong vận kì oan ngã tự cư”?

Hải Anh