Phân tích bài thơ Đồng chí của tác giả Chính Hữu

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Đồng chí của tác giả Chính Hữu

Bài làm

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, người lính đã trở thành hình tượng trung tâm cửa văn học. Càng thú vị hơn khi có nhiều người vừa cầm gươm, cầm súng chiến đấu lại vừa cầm bút viết về mình và đồng đội. Chính Hữu là một trong số đó. Những năm tháng gắn bó với chiến trường và đồng đội đã giúp cho nhà thơ có những vần thơ sâu sắc, thấm thía về người lính, trong đó, Đồng chí vẫn được coi là thi phẩm làm nên tên tuổi của ông.

Được sáng tác trong thời kì đầu, cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra ác liệt nhất, tác phẩm đã khắc họa rõ nét và chân thực nhất hình ảnh người lính xuất thân là những người nông dân chân lấm tay bùn, với tình đồng đội đáng yêu, đáng quý. Khổ thơ đầu của bài thơ chính là lời lí giải về cơ sở của tình đồng chí:

Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!

Cơ sở đầu tiên để hình thành nên tình đồng chí chính là sự đồng cảnh ngộ được nhà thơ thể hiện qua các cụm từ có cấu tạo thành ngữ: “nước mặn, đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá”. Những người lính ra đi từ những miền quê khác nhau, nơi thì bị nhiễm mặn- vùng ven biển, nơi thì lại khô cằn- vùng trung du miền núi, nhưng đều có chung cảnh ngộ là sự nghèo khó. Với các vế câu sóng đôi, lời thơ như thủ thỉ, tâm tình, giãi bày, hai câu thơ trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đi ào lòng người, dễ gợi lên sự đồng điệu trong tâm hồn bạn đọc. Giữa những người lính cùng có chung lý tưởng- đồng chí, lại có chung hoàn cảnh xuất thân ấy xuất hiện một loại tình cảm, chính là tình đồng chí. Tình cảm ấy đã được Chính Hữu làm rõ qua các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng: “súng” và “đầu”. Nếu như “súng” được coi là biểu tượng của sự chiến đấu thì “đầu” lại là ý chí, là lý tưởng. Ở câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên đầu” này, ta lại một lần nữa bắt gặp hình ảnh sóng đôi như ở hai câu thơ đầu. Cùng với đó là các từ được lặp lại: “súng”, “đầu” và “bên” tạo nên nét đặc sắc cho câu thơ. Qua tất cả những hình ảnh và biện pháp tu từ ấy, chí hướng, lý tưởng của những người lính đã được thể hiện rõ nét, đó chính là ý chí chiến đấu, giải phóng quê hương, đất nước để dân tộc được tự do, Tổ quốc được độc lập. Tình đồng đội không thể chỉ bền chặt nhờ sự đồng cảnh ngộ giữa những người lính, trải qua khó khăn, gian khổ mới chính là cách thắt chặt tình cảm ý nghĩa ấy. Chỉ qua một câu duy nhất trong cả khổ thơ, Chính Hữu đã gián tiếp miêu tả những gian lao ấy nhưng bạn đọc vẫn có thể cảm nhận được trọn vẹn những chông gai, thử thách cản đường người lính: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Giữa cái giá lạnh như cắt da cắt thịt nơi rừng sâu hoang vắng, những người lính phải chịu đựng thời tiết khắc nghiệt trong khi thiếu thốn đủ thứ, họ chỉ có độc một chiếc áo mỏng, cũng chỉ có một tấm chăn mỏng để đắp về đêm. Nhưng chỉ cần “chung chăn” với đồng đội trong những đêm rét buốt ấy đã đủ để họ trở thành “đôi tri kỷ”, vì hơi ấm mà họ tìm thấy trong những tấm chăn mỏng không chỉ là hơi ấm về vật chất mà phần lớn chính là cái ấm áp trong tình cảm, là tình yêu thương giữa những người đồng đội đoàn kết cùng sẻ chia, gắn bó như anh em ruột thịt. Tình cảm đáng quý ấy được Chính Hữu đúc kết trong một từ đầy thiêng liêng đã làm thành một câu thơ đặc biệt quan trọng nhất toàn bộ bài thơ: “Đồng chí!”. Kết thúc bằng dấu chấm cảm, câu thơ là lời thốt lên như một phát hiện mới mẻ và thú vị của những người nông dân mặc áo lính vốn chỉ quen làm những việc đồng áng ở quê nhà. Họ lần đầu tiên hiểu được thế nào là tình đồng chí, cũng cảm nhận được sâu sắc sự ấm áp của tình cảm ấy. Câu thơ còn là tiếng gọi thân thương, quen thuộc chứa đựng biết bao cảm xúc, tâm trạng xuất phát từ trái tim và lý trí của những người lính, một tiếng gọi thiêng liêng. “Đồng chí!” cũng chính là câu thơ bản lề khép lại khổ thơ đầu tiên, tiếp nối mạch cảm xúc của tác giả để mở ra những câu thơ sau.

Phân tích bài thơ Đồng chí của tác giả Chính Hữu

Phân tích bài thơ Đồng chí

Những người nông dân mặc áo lính đều có chung hoàn cảnh xuất thân nên anh hiểu tôi, tôi cũng rất hiểu anh:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Loading...

Nếu ở khổ thơ đầu Chính Hữu thường nhắc “anh” trước rồi mới đến “tôi” như một dấu hiệu của sự tôn trọng thì ở những câu thơ này, nhà thơ lại chỉ nói đến bạn mình. Thấu hiểu gia cảnh nghèo khó nay lại phải gửi người bạn thân đồng ruộng để ra lính của người đồng chí, người lính thậm chí có thể mường tượng ra cả giây phút đồng đội mình quyết định lên đường: “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. Câu thơ chứa đựng một khẩu khí, một quyết tâm lên đường dứt khoát nhưng không hề vô tâm, vô trách nhiệm. Người ra đi cảm nhận được căn nhà trống trải, thấy được cả cái “lung lay” như vậy ắt hẳn phải biết lo, biết thương người ở lại. Tuy nhiên, giữa tình riêng và nghĩa cả, người lính đã chấp nhận hy sinh về phía mình và gia đình. Sự thấu hiểu, tình tri kỷ còn giúp người lính đồng cảm với nỗi lòng mà gia đình và quê hương dành cho người đồng chí của mình. Mượn hình ảnh “giếng nước gốc đa”, Chính Hữu muốn nói đến nỗi nhớ, sự trông ngóng của hậu phương đối với tiền tuyến. Lối nói hoán dụ tạo nên sự gần gũi, có sức lay động mạnh càng chứng tỏ sự gắn bó mật thiết của những người lính hiểu bạn như hiểu chính bản thân mình. Rời quê nhà ra mặt trận, những người nông dân đã phải làm quen với bao điều mới mẻ, cũng sẵn sàng tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, đóng quân ở nơi rừng núi hoang vu, những người nông dân mặc áo lính ấy lại phải đối mặt với không chỉ sự thiếu thốn về quân trang mà còn bao khó khăn, gian khổ từ thời tiết khắc nghiệt. Khổ thơ thứ ba này, Chính Hữu đã liệt kê liên tiếp những gian khổ trắc trở mà người lính phải đối mặt:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,

Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Những cơn sốt rét rừng ác tính, những thiếu thốn về vật chất, sự khắc nghiệt của thời tiết, tất cả những khó khăn ấy cùng bủa vây, tấn công những người lính. Mường tượng ra những bàn chân trần trong trời rét buốt, những chiếc áo, chiếc quần vá chằng vá đụp, những tấm chăn đơn mỏng manh,… ta khó có thể cầm lòng được. Những tưởng trong hoàn cảnh ấy, những người lính sẽ hoàn toàn bị đánh gục, nhưng không, họ vẫn nắm chặt tay nhau, cùng nhau chia sẻ mọi gian lao, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Những hình ảnh sóng đôi được nhà thơ sử dụng như để gián tiếp bộc lộ tình đồng chí bền chặt, cùng đồng cam cộng khổ, truyền cho nhau tinh thần lạc quan của những người lính. Với tinh thần lạc quan ấy, họ, những người đồng đội từ lâu đã coi nhau như anh em ruột thịt trong gia đình, đã nắm chặt tay, truyền cho nhau hơi ấm và lòng tin, xua tan đi cái giá lạnh của thời tiết, của cơn sốt rét tàn ác, đánh bay cả những khó khăn, gian khổ. Những gian lao của cuộc đời người lính hiện lên trong thơ Chính Hữu với những hình ảnh chân thực, cụ thể đã được phản ánh một cách rõ nét, đồng thời thể hiện sự bền chặt, gắn bó trong tình đồng đội của những người lính thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình cảm ấy mới quý giá, thiêng liêng và lớn lao nhường nào!

Kết lại bài thơ, ba câu thơ hàm súc đã gợi cho người đọc bao liên tưởng, cảm nghĩ sâu sắc về vẻ đẹp của tình đồng chí:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

“Đêm nay”- khoảng thời gian đã được nhắc ở khổ thơ trước nay trở lại, nhắc người đọc nhớ đến thời gian về đêm khi nhiệt độ giảm thấp, đặc biệt, ở rừng, chênh lệch nhiệt giữa ngày và đêm càng rõ rệt, cái lạnh như mũi kim chích vào da thịt, như muốn phá tan ý chí của những người lính giữa hoàn cảnh khắc nghiệt, giữa thiếu thốn về quân trang. Câu thơ đầu tiên được Chính Hữu sử dụng làm nền cảnh để ở hai câu thơ sau, những hình ảnh đặc sắc, ấn tượng hiện lên, gắn kết chặt chẽ với nhau. Giữa đêm giá lạnh, những người lính phải đứng trong rừng sâu heo hút “chờ giặc tới”, nhưng dường như họ vẫn hiên ngang, không hề nản chí, không một lời kêu ca, than thở. Đó là vì họ “đứng cạnh bên nhau”, được tình đồng chí xoa dịu đi những gian lao, vất vả. Hình ảnh ấn tượng ấy toát lên từ những người lính sự đoàn kết, gắn bó thân thiết và cả tư thể chủ động, hiên ngang, bất khuất trước quân thù mặc cho thời tiết khắc nghiệt, hoàn cảnh thiếu thốn luôn bủa vây họ. Kết thúc khổ thơ và cũng là cả bài thơ chỉ là một câu thơ có vẻn vẹn bốn chữ nhưng đó lại là bốn chữ đặc sắc nhất toàn thi phẩm: “Đầu súng trăng treo”. Đó là hình ảnh mà tác giả đã tận mắt quan sát, chứng kiến trong thực tế những đêm phục kích chờ giặc. Trong rừng sâu, ông đã có cơ hội được thấy hình ảnh độc đáo ấy- hình ảnh mặt trăng nhìn từ nơi mà những người lính đang cầm súng chờ giặc- hình ảnh trăng như treo ngau đầu súng. Nhân hóa “trăng” bằng động từ “treo”, nhà thơ muốn gián tiếp biểu lộ sự gắn bó của những người lính với ánh trăng vàng soi rọi. Trăng là người bạn, cũng là người đồng chí luôn ở bên cố vũ những người lính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Bên cạnh đó, “Đầu súng trăng treo” còn là hình ảnh biểu tượng khi “súng” là của những người chiến sĩ chiến đấu vì hiện thực khốc liệt, còn “trăng” lại là tri kỉ của thi sĩ để viết nên những tác phẩm trữ tình, lãng mạn. Kết hợp hai hình ảnh này chính là sự kết hợp giữa chiến sĩ- thi sĩ, chiến đấu- trữ tình, hiện thực- lãng mạn, cũng chính là vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng, gắn kết. Có thể nói, hình ảnh ấy chính là tiêu biểu cho vẻ đẹp của thơ ca Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Thực dân Pháp.

Đồng chí là bài thơ rất Chính Hữu, lời thơ hàm súc, dồn nén tình cảm, có sức khơi gợi lớn. Với Đồng chí, nhà thơ Chính Hữu đã đóng góp cho thơ ca chống Pháo một lối thơ giản dị mà tinh tế, hiện thực mà lãng mạn. Từ đó, nhà thơ tôn vinh người lính với tình đồng chí, tình yêu lý tưởng, sự kiên cường, lạc quan để chính nhờ đó, những thế hệ người lính trong lịch sử Việt Nam đã tạo nên kì tích.

Hải Anh