Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của tác giả Phan Bội Châu đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của tác giả Phan Bội Châu

Bài làm

Văn học chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của mỗi người. Vậy thì, cũng thật dễ hiểu thôi khi có những người làm những công việc khác nhau nhưng lại đều có thể làm thơ, viết văn, thậm chí còn làm rất giỏi, viết rất hay. Phan Bội Châu chính là một trong số đó. Là một nhà hoạt động cách mạng nhưng suốt sự nghiệp của mình, ông cũng viết rất nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, thể hiện chí lớn cứu nước, khí phách anh hùng, tinh thần quyết liệt của nhân vật trữ tình đối với việc giành lại độc lập cho dân tộc mà bài thơ Lưu biệt khi xuất dương (Xuất dương lưu biệt) là một trong những tác phẩm nổi bật nhất của ông.

Ngay từ nhan đề, bạn đọc đã phần nào đoán được hoàn cảnh bài thơ ra đời hẳn phải xuất phát từ một cuộc chia ly. Chính là sau khi Phan Bội Châu thành lập Duy tân hội, năm 1905, ông phải nhận nhiệm vụ xuất dương sang Nhật để đặt cơ sở đào tạo cốt cán cho phong trào cách mạng trong nước. Trong buổi chia tay của mình với các đồng chí để lên đường, nhà thơ đã viết nên thi phẩm bằng chữ Hán. Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật đậm màu sắc cổ điển, Lưu biệt khi xuất dương có cấu trúc quen thuộc gồm bốn phần.

Qua hai câu đề mở đầu bài thơ, tác giả đã bộc lộ khí chất của kẻ làm trai:

Sinh vi nam tử yếu hi kì,

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.

Sinh ra là một người nam tử phải mong làm được những chuyện phi thường, lớn lao để xứng với trời đất, với cuộc đời. Thi sĩ thời xưa rất nhiều từng viết về chí làm trai trong thiên hạ nhằm thể hiện khí phách và lòng quyết tâm của mình:

Nam nhi vị liễu công danh trái

(Phạm Ngũ Lão)

Làm trai, lập chiến công không chỉ để khẳng định bản thân mình, để nâng mình lên mà thực chất, kẻ nam tử trong thiên hạ là người mang chí lớn, luôn muốn cống hiến hết sức mình cho cuộc đời, muốn đem lại ấm no, hạnh phúc cho tất cả mọi người. Phan Bội Châu cũng giống những người đời trước, đều muốn làm được việc lớn, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ bằng chính sức mình chứ không muốn thuận theo thời thế, không muốn khuất phục trước những khó khăn, thử thách của đời người. Ông quyết thay đổi tình cảnh khốn khổ của người dân dưới gọng kìm của quân xâm lược chứ không hèn nhát chịu sự xoay vần của thời thế, đầu hàng trước quân địch. Tư tưởng chính trực, mạnh mẽ đầy táo bạo của Phan Bội Châu đã thể hiện ý chí lớn lao không chịu khuất phục trước chông gai, thử thách của một nhà hoạt động cách mạng, một người anh hùng của dân tộc.

Tiếp nối truyền thống ngàn đời của dân tộc, Phan Bội Châu cũng có những điểm mới đầy hiện đại:

Ư bách niên trung tu hữu ngã,

Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ.

Thời đại này, kẻ có chí lớn, nhân vật trữ tình tự nhận thức đó là mình cùng những người đồng chí khác cùng chung chí hướng, lý tưởng. Họ đã, đang và sẽ luôn dốc sức hoạt động để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, cho đất nước bất chấp bao khó khăn, gian khổ đang chờ ở phía trước. Chí khí anh hùng từ ngàn đời được giữ gìn, đời này có những kẻ làm trai với chí lớn, đời sau chắc chắn cũng sẽ có những người tiếp nối, làm nên việc lớn.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có

(Nguyễn Trãi)

Loading...

Đặt niềm tin vào thế hệ sau, nhân vật trữ tình tin vào tương lai của đất nước sẽ có hiền tài có thể cống hiến hết sức cho dân tộc, hoàn thành những gì người đi trước chưa làm xong, mở ra những con đường mới đem lại hạnh phúc cho tất cả người dân. Thơ xưa, người ta thường đề cao cái chung, cái cộng đồng, tránh nhắc đến cái riêng của bản thân mình. Ở đây, Phan Bội Châu lại thay đổi quan niệm phi ngã ấy, ông tự xưng danh trong câu thơ, nhắc đến chính bản thân mình là một kẻ nam nhi có chí lớn. Giữa một thời đại có nhiều biến động lớn, tác giả có quyền tự hào về ý chí, tư tưởng lớn của mình, đồng thời, việc tự xưng này cũng khẳng định lòng tin của ông về một tương lai dân tộc được giải phóng khi thời đại, đất nước có những người nam tử chí lớn, khí phách, nguyện dốc hết sức mình cống hiến cho Tổ quốc, cho cuộc đời.

Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của tác giả Phan Bội Châu đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương

Nhận thức được mình trong thời đại, cuộc đời, Phan Bội Châu còn hiểu rõ bản thân phải làm những gì thiết thực nhất để giúp ích được cho đất nước:

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!

Đất nước bị xâm lược, “non sông đã chết”, người nam tử thà chết chứ không chịu sống tủi nhục, khuất phục quân thù. Đó chính là ý chí cứng rắn, cương quyết, thể hiện lòng yêu nước nồng nàn của kẻ làm trai có khí phách. Làm trai phải có chí lớn, nhưng có ý chí, khí phách thôi thì chưa đủ để xưng danh với đất trời. Điều quan trọng là người nam tử phải hiện thực hóa được những ý chí mạnh mẽ, hơn người của mình trong hành động. Trong thời đại đất nước rơi vào tay kẻ địch, nhân dân phải chịu cảnh nước mất nhà tan, thân là một người nam tử có chí lớn, Phan Bội Châu hiểu mình và tất cả những người cùng thời phải có những hành động cụ thể để cứu nước, cứu dân chứ không thể chỉ đọc Thánh hiền, học những lễ giáo đã cũ, không còn phù hợp với tình hình đất nước. Tư tưởng của tác giả đã vượt ra khỏi cái khung chật hẹp, cũ mòn của xã hội cũ để tiến bước tới những bậc hiện đại hơn, tiến bộ hơn, khả thi hơn để hiện thực hóa ý chí lớn lao, cống hiến sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Vừa ấp ủ chí lớn, khí phách anh hùng, vừa có những nhận thức tiến bộ mong muốn hiện thực hóa tư tưởng cứu nước, cứu dân, nhân vật trữ tình hiện lên trong hai câu thơ Kết mang một vẻ đẹp thật lớn lao và kì vĩ:

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Mang theo ý chí và lòng quyết tâm giành lại hòa bình, độc lập cho đất nước, nhân dân, Phan Bội Châu đã sử dụng những hình ảnh mang tầm vóc lớn lao, tính biểu tượng lớn: “trường phong Đông hải khứ” và “thiên trùng bạch lãng”, thể hiện mong muốn được đuổi theo, chinh phục cơn gió lớn, được dẫn đầu lớp sóng bạc tung hoành khắp bốn bể. Nhân vật trữ tình với mong muốn và ý chí sắt đá cùng thiên nhiên kì vĩ vượt qua mọi thử thách, làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời, cống hiến sức mình cho đất nước, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc. Người nam tử hiện lên qua những hình ảnh thiên nhiên lớn lao, thường xuất hiện trong thơ cổ đại diện cho tầm vóc của bậc đại trượng phu, như hòa vào với ngọn gió, con sóng lớn, hiến dâng hết mình để non sông được bình yên, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Xuyên suốt cả tác phẩm, những từ: “càn khôn”, “bách niên”, “giang sơn”, “trường phong”, “thiên trùng” không chỉ gợi mở ra những khoảng không gian và thời gian rộng lớn, bao la mà còn đồng thời thể hiện được khí chất anh hùng, tầm nhìn rộng mở và lòng quyết tâm không gì có thể ngăn cản được.

Là một tác phẩm được sáng tác trong lúc chia ly nhưng Lưu biệt khi xuất dương lại không hề ủy mị, mang những cảm xúc buồn bã, bi lụy. Bài thơ là tiếng lòng của Phan Bội Châu, nói lên những tư tưởng, ý chí lớn lao, vĩ đại của ông để từ đó, khắc họa hình ảnh một nhà hoạt động cách mạng luôn quyết tâm dốc hết sức mình bảo vệ nền độc lập, tự do cho đất nước, xứng với phận làm trai trong một thời đại đầy biến động cần những người tài giúp sức.

Hải Anh