Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

Bài làm

Mùa xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc, vạn vật chuyển mình đầy hân hoan đón một mùa mới tràn đầy ánh nắng và sức sống tươi trẻ. Nghệ thuật từ lâu đã coi mùa xuân là một chủ đề có sức khai thác, sáng tạo vô tận, nghe những bài hát, ngắm những bức họa, đọc những tác phẩm về mùa xuân, ta có thể cảm nhận được sức sống tràn trề mà mỗi tác phẩm nghệ thuật đem đến. Cũng sáng tác về mùa xuân, bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải không chỉ khắc họa vẻ tươi đẹp, sinh động của mùa đầu tiên trong năm này, mà ông còn thể hiện một khát vọng sống mãnh liệt có sức mạnh vượt lên trên mọi khó khăn, bệnh tật.

Vào một ngày mùa thu của tháng 11 năm 1980 nơi xứ Huế thanh bình, Thanh Hải đã viết nên bài thơ cuối cùng của đời mình ngay trên giường bệnh, ấy vậy mà bài thơ lại có một nhan đề gợi lên sức sống tràn đầy của sự khởi đầu cuộc sống- Mùa xuân nho nhỏ. Như đã nhắc đến ở trên, thi phẩm ra đời khi thu dần đi, đông sắp đến, vậy mà ngay từ khổ thơ mở đầu bài thơ, bạn đọc đã cảm nhận được cảm xúc của nhà thơ trước cảnh mùa xuân của thiên nhiên xứ Huế:

Mọc giữa dòng sông xanh

Một bông hoa tím biếc

Nổi bật trên nền xanh của dòng sông là sắc tím của sức sống mãnh liệt khi chỉ một bông hoa nhỏ bé mọc lên giữa dòng sông bao la, rộng lớn. Đó không chỉ là sức sống của riêng bông hoa mà còn là sức sống của cả mùa xuân đất nước. Đặt bài thơ trong hoàn cảnh ra đời của nó, ta không khỏi bất ngờ cũng như ngưỡng mộ trước khát vọng sống mãnh liệt của Thanh Hải khi ông mở đầu bài thơ với từ “mọc” được sử dụng trong nghệ thuật đảo trật tự từ. Nối tiếp nét vẽ đầu tiên- hình ảnh bông hoa- là âm thanh của tiếng chim:

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Âm thanh ấy lảnh lót, vang vọng như xao động cả không gian, đất trời để gọi mùa xuân về. Tiếng chim chiền chiện trong vắt ấy đọng lại thành từng giọt như những giọt sương mai. Từng giọt, từng giọt cứ lần lượt, nối tiếp nhau rơi tự do giữa khôn gian bao la tràn ngập sắc xuân:

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng

Những giọt long lanh ấy có thể là những hạt mưa bụi mùa xuân hay cũng chính là những giọt âm thanh- tiếng hót của chim chiền chiện. Dường như, những giọt mưa xuân đang hòa cùng âm thanh của tiếng chim, rơi xuống trần gian như những viên ngọc tinh túy nhất của đất trời mà Đấng Tối cao ban xuống- để nhà thơ đưa tay hứng lấy. Câu thơ cuối của khổ thơ sử dụng liên tiếp hai đại từ “tôi” thể hiện sự thành kính, trân trọng trong tư thế của tác giả. Ông đưa tay lên để có thể hứng được từng “viên ngọc” ấy như để đón nhận những điều gì là tinh khiết, trân quý nhất của vẻ đẹp mùa xuân thiên nhiên. Giọt âm thanh- phải có hình khối thì Thanh Hải mới có thể hứng được, và quả thật, nhờ phương thức ẩn dụ chuyển đổi cảm giác mà “giọt long lanh” mới có hình khối và thậm chí là cả màu sắc. Sự trân trọng, nâng niu, thiết tha, trìu mến trong giọng hỏi, giọng gọi và tư thế đã được thể hiện đầy đủ trong đoạn thơ để độc giả có thể cảm nhận được sự say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp thiên nhiên của Thanh Hải. Đọc đoạn thơ, ta như lạc vào một thế giới thi vị, lãng mạn với những hình ảnh đậm chất trữ tình, ở đó, giữa con người và thiên nhiên như có mối giao hòa trọn vẹn để từ đó, ta thêm yêu quê hương, đất nước.

Thiên nhiên đất trời đang ở trong thời kì tươi đẹp của mùa xuân, đất nước cũng không phải là ngoại lệ. Trước vẻ đẹp động lòng của mùa xuân đất nước, nhà thơ đã bộc lộ những cảm xúc của riêng mình, đầu tiên là qua hình ảnh con người với hai ý nghĩa biểu tượng khác nhau: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy quanh lưng

Mùa xuân người ra đồng

Lộc trải dài nương mạ

Tuy khác nhau về nhiệm vụ nhưng ở cả hai tầng nghĩa, ta đều thấy sự xuất hiện của hình ảnh “lộc”- nghĩa hiện thực là chồi non, nhành non hay cây non, và nghĩa ẩn dụ chính là tượng trưng cho sức sống của mùa xuân, của thế hệ trẻ. Những con người trẻ ấy với sức sống tươi trẻ, khát vọng sống và cống hiến mãnh liệt đã dâng hiến toàn bộ sức mình cho quê hương, đất nước để đem lại mùa xuân cho Tổ quốc sau những tháng ngày chiến đấu ác liệt. Vô cùng tinh tế và khéo léo khi sử dụng hai từ láy tượng hình và tượng thanh, nhà thơ đã thể hiện một khí thế khẩn trương, tinh thần cống hiến hết mình cho quê hương, đất nước của những con người trẻ tuổi:

Tất cả như hối hả

Tất cả như xôn xao…

Không chỉ có vậy, khí thế ấy dường như còn lan tỏa mãi trong không khí mùa xuân tươi mới nhờ dấu chấm lửng ở cuối khổ thơ. Từ trong không khí mùa xuân, đất nước hiện lên trước mắt ta với bề dày lịch sử bốn ngàn năm, những thăng trầm, những gian lao, vất vả:

Ðất nước bốn nghìn năm

Vất vả và gian lao

Tất cả những gian khổ, mất mát tưởng chừng như là vô tận ấy đã được ngòi bút tài ba của Thanh Hải gói gọn trong hai từ “vất vả” và “gian lao” giàu giá trị biểu cảm. Có được những trang sử hào hùng, những truyền thống văn hóa đã gìn giữ và lưu truyền suốt bốn ngàn năm lịch sử ấy, đất nước ta mới có thể vững chắc bước từng bước trên con đường vươn ra tầm quốc tế để rồi vút bay “như vì sao” lên bầu trời bao la, rộng lớn:

Ðất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước.

“Vì sao”- hình ảnh của thiên nhiên tươi đẹp, vĩnh hằng lấp lánh làm sáng cả bầu trời đêm, vì sao ấy cũng chính là lời khẳng định đất nước sẽ trường tồn mãi mãi cùng năm tháng của tác giả. Không chỉ là hình ảnh so sánh đơn thuần, “Đất nước như vì sao” còn là niềm tự hào, tin yêu và hy vọng của Thanh Hải về một Việt Nam “cứ đi lên phía trước”. Phó từ “cứ” chỉ sự tiếp diễn như muốn khẳng định rằng, với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, chúng ta quyết không chịu lùi bước trước mọi biến cố, những thăng trầm lịch sử. Đối với Thanh Hải và với mỗi chúng ta, đất nước Việt Nam là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt và sự trường tồn mãi mãi của dân tộc Việt Nam.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đạt điểm cao

Loading...

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Trong bầu không khí tràn ngập sắc xuân của thiên nhiên, của đất nước và cả tâm hồn nhà thơ, ông đã có những ước nguyện bình dị, giản đơn nhưng cũng đầy ý nghĩa:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến

Bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy các sự vật ở khổ thơ này chính là sự lặp lại các hình ảnh ở khổ thơ đầu tiên. Đây chính là dụng ý của Thanh Hải nhằm tiếp nối sự liền mạch trong dòng cảm xúc cũng như tạo nên cấu trúc đối ứng trong bài thơ. Lẽ thường, những người mắc bệnh hiểm nghèo, lại đang nằm trên giường bệnh như nhà thơ sẽ có những ước nguyện thực tế cho bản thân như mong muốn được khỏi bệnh, sớm khỏe mạnh trở lại,… Tuy nhiên, Thanh Hải lại ước nguyện được trở thành con chim hót vang những khúc ca líu lo ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân, ước nguyện được trở thành một cành hoa dù nhỏ bé, mỏng manh nhưng lại góp phần thêm vào bức tranh mùa xuân thiên nhiên chút sắc màu, hương thơm, ước nguyện được làm nốt trầm để để lại dư âm khiến lòng người xao xuyến. Đó chính là những ước nguyện được hóa thân để cống hiến cho cuộc đời của tác giả ngay cả khi ông đã nằm trên giường bệnh. Những ước muốn ấy tuy bình dị, giản đơn nhưng lại là những ước muốn cao đẹp, đem lại niềm vui, màu sắc, vẻ đẹp cho cuộc đời, đóng góp cho đời những gì là tinh túy nhất. Không muốn được khỏi bệnh, có lại được cuộc sống khỏe mạnh trước đây mà chọn hóa thân vào thiên nhiên bởi nhà thơ chỉ muốn âm thầm, lặng lẽ cống hiến, không ồn ào, khoa trương. Dễ dàng nhận thấy Thanh Hải đã sử dụng nghệ thuật điệp cấu trúc: “Ta làm…” ở ba câu thơ đầu khổ thơ thể hiện sự chân thành, tha thiết mãnh liệt trong những ước muốn giản dị của mình. Nếu như ở khổ thơ đầu tiên, tác giả xưng “tôi” thì đến khổ thơ thứ tư này, đại từ “ta” lại là chủ ngữ cho các câu thơ. Sở dĩ có sự thay đổi này là bởi những ước muốn được hóa thân thành “con chim hót”, “cành hoa” hay “nốt trầm” không chỉ là ước nguyện riêng của nhà thơ mà còn là tấm lòng của những con người yêu mến cuộc sống, có khát vọng sống mạnh liệt để luôn sẵn sàng tinh thần cống hiến hết mình cho quê hương, đất nước. Ước nguyện hóa thân ấy luôn cháy bỏng trong Thanh Hải, ông muốn được làm:

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Với số từ chỉ số ít “một” và tính từ “nho nhỏ”, một lần nữa ta cảm nhận được ước muốn của nhà thơ bình dị và thật khiêm nhường. Là một hình ảnh ẩn dụ đẹp, sáng tạo và độc đáo chỉ có trong thơ Thanh Hải, “mùa xuân nho nhỏ” là mùa xuân của mỗi cuộc đời, nhà thơ qua đó đã bộc lộ ước muốn được cống hiến, đóng góp mùa xuân của mỗi cuộc đời, những gì tinh túy nhất cho mùa xuân chung của đất nước, dân tộc, thể hiện sự hòa quyện, thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cá nhân với cộng đồng trong tâm nguyện của tác giả. Sự âm thầm, lặng lẽ trong ước nguyện của Thanh Hải một lần nữa được thể hiện qua biện pháp tu từ đảo ngữ khi ông đảo từ “lặng lẽ” lên đầu câu thơ. Cùng với đó, từ “dâng” cũng bộc lộ được sự chân thành, tha thiết, thành kính trong ước nguyện được hiến dâng mùa xuân của mình cho mùa xuân chung của đất nước. Lòng quyết tâm mãnh liệt ấy được độc giả cảm nhận đặc biệt qua cách nhà thơ dùng biện pháp tu từ điệp ngữ ở hai câu thơ cuối khổ thơ:

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc.

Lặp lại hai lần từ “dù là”, ước nguyện của nhà thơ không chỉ dừng lại ở lòng quyết tâm mà còn là sự bền bỉ cống hiến cho cuộc đời, cho mùa xuân chung của đất nước bất kể thời gian, tuổi tác.

Dưới ngòi bút tài hoa của nhà thơ Thanh Hải, khổ thơ cuối tác phẩm hiện lên như một khúc hát ngợi ca quê hương, đất nước với câu thơ mở đầu gợi nhắc thời gian:

Mùa xuân- ta xin hát

Mùa xuân- mùa khởi đầu cho một năm- có lẽ là mùa mà ai cũng yêu thích bởi đây chính là mùa của sự sinh sôi, nảy nở, mùa của sự sống, của sức sống tràn đầy. Trước mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp ấy, nhà thơ đã thể hiện khát vọng được cất cao tiếng hát để ngợi ca quê hương, đất nước. Đọc đến đây, ta bất giác lại nhớ tới thi phẩm Bếp lửa của Bằng Việt với câu thơ:

Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa!

không phải vì nội dung của hai câu thơ có điểm tương đồng mà vì cách thể hiện nội dung ấy của cả hai nhà thơ đều có những điểm chung, đó là việc sử dụng dấu gạch ngang tách câu thơ thành hai vế. Đặc biệt, trong thơ của Thanh Hải, dấu câu này còn được sử dụng như một biện pháp tu từ để nhấn mạnh vào khát vọng được cất cao tiếng hát giữa mùa xuân của đất trời của nhà thơ. Tiếng hát ấy không chỉ của riêng tác giả mà còn là tiếng hát của hàng triệu con người Việt Nam đều có chung tình yêu quê hương, đất nước như ông. Hai làn điệu dân ca xứ Huế nổi tiếng của quê hương vang lên trong câu thơ tiếp theo với biện pháp tu từ liệt kê đã thể hiện niềm tự hào của nhà thơ về vốn quý trong nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc:

Câu Nam ai, Nam bình

Hai làn điệu ấy tuy khác nhau về giai điệu- điệu Nam ai thì buồn thương còn Nam bình thì lại dịu dàng, trìu mến nhưng cả hai đều mang những nét rất riêng của xứ Huế mộng mơ, lãng mạn- nơi quê hương đã nuôi lớn mầm thơ trong Thanh Hải. Xuyên suốt cả bài thơ là khát vọng sống, tình yêu cuộc sống mãnh liệt của tác giả:

Nước non ngàn dặm tình

Nước non ngàn dặm mình

Nhịp phách tiền đất Huế.

“Đất Huế”- quê hương của nhà thơ- nơi ông sinh ra, lớn lên và trút hơi thở cuối cùng, Thanh Hải đã dùng từ ngữ này để khép lại toàn bộ bài thơ tràn ngập không khí xuân để khẳng định lại một lần nữa tình yêu quê hương tha thiết, chân thành của mình. Không chỉ dừng lại ở tình yêu, tác giả còn biết trân trọng, kế thừa và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương, dân tộc.

Đọc lại cả bài thơ, độc giả không chỉ bị cuốn hút bởi những ngôn từ, chất nhạc trong từng câu chữ, mà còn thêm thán phục và ngưỡng mộ nghị lực sống mãnh liệt cũng như khát vọng được cống hiến cho đất nước, cho cuộc đời của tác giả. Chính vì vậy mà Mùa xuân nho nhỏ được coi là bài thơ xuất sắc nhất của Thanh Hải khi thành công trọn vẹn cả về mặt nội dung và nghệ thuật. Trang thơ đã khép lại nhưng chắc chắn dư âm của nó về một lối sống tràn đầy sức sống, khát vọng và không ngừng cống hiến hết mình cho cuộc đời sẽ còn mãi trong lòng bạn đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hải Anh