Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên đạt điểm cao

0
Loading...
Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên đạt điểm cao
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ “Ông đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên

Bài làm

Môi dịp Tết đến xuân về, khi cành đào đua nhau khoe sắc thắm, người người nhà nhà nô nức cùng nhau đi sắm Tết. Không khí tươi vui, rộn ràng làm cho lòng người càng thêm phấn khởi, hạnh phúc. Thế nhưng, trong một khoảnh khắc nào đó, nhìn lên câu đối đỏ treo trên tường, chúng ta lại nhớ về những nét đẹp văn hóa truyền thống. Bài thơ “Ông đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên đã vẽ lên những hiện tượng “thật” của đời sống với hình hình ảnh ông đồ ngồi bán chữ trong không gian xưa và sự lãng quên đầy lạnh nhạt của con người trước bước đi lặng lẽ của thời gian.

Bài thơ được sáng tác khi “ông đồ” đã trở thành một phần của kí ức và chữ Nho cũng đã mất đi vị trí của mình trong xã hội. Nhà thơ đã vẽ lên hình ảnh ông đồ quen thuộc trong xã hội xưa và sự “ra đi” khi cuộc sống ngày càng hiện đại, Tây hóa hơn. Đó là một quá trình dài với bước đi thầm lặng chẳng ai nhận ra để rồi khi dừng một nhịp để nhìn lại, mọi thứ đã khác xưa quá nhiều.

Mở đầu bài thơ, tác giả khắc họa lại thời kỳ hoàng kim của ông đồ.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Trên phố bao người qua

Mỗi khi nhìn thấy sắc thắm của hoa đào, người ta lại háo hức khi Tết về. Tết đến, mọi người cùng nhau đi sắm tết nô nức, nhộn nhịp. Trên những con phố nhỏ tấp nập người qua lại, người ta lại bắt gặp hình ảnh ông đồ ngồi “vẽ” vẽ chữ. Một chữ “lại” cũng đủ để cho ta thấy hình ảnh đó quen thuộc như thế nào. Nó lặp đi lặp lại, năm này qua năm khác, trở thành thói quen, thành nét văn hóa lâu đời của người Việt. Mỗi khi Tết đến xuân về, ông đồ lại hành nghề bán chữ. Hình ảnh ấy thân quen và trở thành một phần không thể thiếu trong những ngày gần Tết với những tờ giấy đỏ thẫm bên nghiên mực tàu quen thuộc.

Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Ông đồ

Ông đồ xuất hiện trong sự chào đón, khen ngợi của tất cả mọi người.

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay

Chỉ bốn câu thơ nhưng Vũ Đình Liên đã thể hiện được tài năng đáng ngưỡng mộ của ông đồ. “Bao nhiêu” biểu thị cho một số nhiều, không đếm được cụ thể. Cũng có nghĩa rằng, tài năng của ông được rất nhiều người công nhận và thuê viết. Ai cũng “tấm tắc ngợi khen tài” năng ấy và những câu đối đỏ treo trong nhà dịp Tết là một cái gì đó mang đến may mắn mà ai cũng trân trọng. Nhà thơ tiến lại gần hơn, quan sát từng động tác của ông đồ. Những nét chữ mềm mại, uyển chuyển “như phượng múa rồng bay” mà ít ai có thể phác họa lên được. Nó đẹp và có hồn.

Loading...

Tuy nhiên, đằng sau sự khen ngợi ấy lại ẩn chứa một nỗi buồn ít ai tỏ. Đi viết câu đối thuê dường như là nỗi nhục, là sự thấp hèn của một người theo nghiệp khoa bảng. Người ta đỗ quan nghè, quan thám, thấp cũng ông cử, ông tú.. còn ông không đỗ đạt gì đành phải về quê mài mực bán chữ. Chữ người ta đi cho chứ ai lại đi bán bao giờ. Thế nhưng, vì hoàn cảnh, vì thất thế nên ông đành phải làm cái nghề bất đắc dĩ ấy. Cũng may, tài viết chữ của ông được mọi người khen ngợi chứ không thì tủi hờn lắm.

Thế rồi, theo dòng chảy của thời gian, mọi thứ dường như đi theo một hướng mà chẳng ai ngờ tới.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ đã dần mất đi vị trí trong lòng mọi người. Con số “bao nhiêu người thuê viết” mỗi năm lại vắng dần, thưa bớt và đến khi không còn một ai. “Người thuê viết nay đâu” như một câu nói đầy chua xót và tủi hờn. Tài năng của ông vẫn vậy, những nét chữ vẫn mềm mại uyển chuyển là vậy nhưng tại sao sự ngưỡng mộ, trầm trồ khen ngợi lại không còn nữa. Chẳng một ai cần đến chữ Nho nên chẳng còn ai nhớ đến ông đồ. Đến giấy đỏ, mực, nghiên vốn là những vật vô tri vô giác nhưng chúng cũng buồn, cũng tủi. Chúng bày ra đó, phô hết vẻ đẹp ra đó nhưng cũng chẳng một ai ngó ngàng.

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay

Nhà Nho vẫn ngồi đấy, vẫn kiên trì bám trụ, vẫn cố để giữ lấy những nét đẹp đẽ của văn hóa mà người ta một thời tôn trọng. Thế nhưng, hình bóng ông dường như bị mờ nhạt, chẳng ai để ý, chẳng ai ngó ngàng. Họ đi qua một cách vô tâm đầy tàn nhẫn. Những trang giấy vẫn nằm nguyên một chỗ, nhẹ nhàng đón nhận chiếc lá vàng cuối mùa rơi xuống. Những hạt mưa phùn măng giắc khắp nơi. Nó làm cho nỗi buồn càng thêm sẩu thẳm, tái tê. 

Và rồi, một khoảng lặng được vẽ ra ở bốn câu thơ kết bài:

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ

Năm nay đào vẫn nở, mọi người vẫn nô nức cùng nhau đi sắm Tết, mọi thứ vẫn vậy chẳng hề thay đổi. Ngoại trừ bóng dáng ông đồ ngồi viết chữ nay đã không còn nữa. Ông đã kiên nhẫn để bám trụ nhưng tấm chân thành ấy không thắng nỗi sự lãng quên của lòng người. Ông không đủ kiên nhẫn để đợi, cũng không đủ sức mạnh để có thể níu kéo họ quay lại yêu thích câu đối đỏ may mắn. Để rồi, sau những năm tháng vội vã chạy theo sự Tây hóa với những thứ sa hoa hiện đại, những con người yêu quý chữ Nho, yêu nét đẹp truyền thống cũng chẳng còn. Tâm hồn họ đã bay về đâu hay đang chạy theo những cám dỗ của những thứ xa xỉ, vinh hoa?

Ông đồ không chỉ là một người, cũng không phải là một bộ phận những người tri thức không gặp thời mà ông còn là đại diện cho một chặng đường của dân tộc, cho một thời đại của quá khứ. Đến khi chúng ta dừng lại trước dòng chảy mạnh mẽ của thời gian, nhìn lại những gì đã qua, bỗng thấy luyến tiếc, xót xa thì tất cả cũng đều đã muộn. Một tiếng thở dài, nuối tiếc khôn nguôi đọng lại trong tâm hồn mỗi người.

Như vậy, bài thơ “Ông đồ” đã mang đến cho chúng ta những cảm xúc nghẹn ngào và đầy luyến tiếc. Sống chậm lại và biết trân trọng những điều đẹp đẽ của quá khứ để rồi khi nhìn lại, ta sẽ mỉm cười và bước tiếp trong niềm tự hào, hạnh phúc khôn nguôi.

Seen