Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh

Bài làm

Văn học Việt Nam thời kì miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, đề tài được phần đông tác giả lựa chọn là đề tài hậu chiến tranh hay công cuộc xây dựng lại một cuộc sống mới của người dân. Giữa hoàn cảnh ấy, Xuân Quỳnh- một gương mặt rất đáng chú ý của nền văn học hiện đại lại lấy tình yêu làm đề tài chính trong các thi phẩm của mình. Chị viết về nhiều đề tài nhưng nổi bật nhất là đề tài về tình yêu, và trong số những bài thơ tình của mình, đặc sắc và được bạn đọc yêu mến nhất có lẽ là thi phẩm Sóng– một trong những vần thơ đẹp nhất của thi ca hiện đại Việt Nam khắc họa hình tượng sóng để qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ.

Năm 1967, khi cuộc chiến tranh chống Đế quốc Mĩ vẫn đang diễn ra ác liệt, Xuân Quỳnh, trong một chuyến công tác vào tuyến lửa miền Trung, đã viết nên bài thơ Sóng. Ra đời giữa những tiếng gầm của bom đạn, những máu lửa, đau thương, vậy mà bài thơ vẫn mang một vẻ đẹp lãng mạn, trữ tình, từng vần thơ nhịp nhàng như nhịp đập của một trái tim người phụ nữ đang yêu. Sóng- rút từ tập Hoa dọc chiến hào (1968)- được coi như những bông hoa tình yêu nở dọc chiến hào trong những năm đánh Mĩ sôi nổi của dân tộc. Giống như cái tên của nó, "sóng" là hình tượng trung tâm của bài thơ, song song với "sóng", hình tượng "em" cũng xuất hiện xuyên suốt và đóng vai trò quan trọng trong việc bộc lộ tình cảm của nhân vật trữ tình cũng như thể hiện quan niệm về tình yêu của nhà thơ. Hai hình tượng này có sự đồng hành, gắn kết chặt chẽ với nhau: người con gái khi yêu soi mình vào sóng để hiểu rõ mình hơn và cũng qua sóng để bày tỏ những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu, qua đó, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ vừa giữ được nét truyền thống vừa tiếp nhận những cái hiện đại, tân tiến.

Đoạn thơ đầu tiên gồm bốn khổ thơ đã thể hiện bản chất, khát vọng và cội nguồn của sóng, cội nguồn của tình yêu:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sóng là một hiện tượng tự nhiên vốn có của thế giới, hành động vỗ bờ là hành động hàng ngày của sóng. Dưới ánh nhìn đầy thi vị của một tâm hồn lãng mạn, sóng hiện lên trước mắt nhà thơ khi thì dữ dội, ồn ào, lúc lại dịu êm, lặng lẽ. Theo lẽ thường, nhà thơ phải dùng “mà” hay “nhưng” để nối giữa các vế trong câu thơ, diễn tả mối quan hệ đối lập, tương phản, tuy nhiên, ở đây, “và” được sử dụng một cách thật đặc biệt đã giúp Xuân Quỳnh khẳng định sự tồn tại song song, đồng thời của những trạng thái đối lập của sóng. Cũng chính vì điều này, sóng trở nên phức tạp và thật khó hiểu, có nét tương tự giống với người con gái đặc biệt là khi yêu. Trái tim người con gái rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương nhưng vết thương cũng lành lại rất nhanh, nhịp đập trái tim cũng giống như sóng lúc nhanh, lúc chậm; chợt vui, chợt buồn; lúc tin tưởng, lúc nghi ngờ; khi mãnh liệt, khi đằm thắm… Tình yêu vốn dĩ là như vậy, rất phức tạp, rất mâu thuẫn. Chính Xuân Quỳnh cũng đã có lần phải thốt lên:

Ôi tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên

Nhưng dẫu sao, người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn mang đậm nét đẹp dịu dàng, đằm thắm trong cả ngoại hình lẫn tính cách, tâm hồn. Nhà thơ để những tính từ “dịu êm” và “lặng lẽ” kết thúc hai câu thơ đầu tiên như cố ý để lại cho bạn đọc ấn tượng về chất nữ tính của người con gái, cũng chính là vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống vẫn luôn được gìn giữ và trân trọng cho đến ngày nay. Tình yêu phức tạp, con gái khi yêu cũng thật mâu thuẫn, đây cũng chính là nguyên nhân:

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Những khát vọng mạnh mẽ được yêu thương của sóng, có lẽ sông không hiểu được. Từ một hiện tượng vốn đã trở thành quy luật trong tự nhiên: sóng đổ từ sông ra bể, Xuân Quỳnh đã khéo léo biến nó thành hình ảnh ẩn dụ cho tình yêu của sóng, cũng giống như người con gái nếu yêu phải một người không thể đem lại hạnh phúc cho mình, sẽ phải ra đi, tìm một người tốt hơn. Hành trình tìm ra biển lớn của sóng cũng là hành trình kiếm tìm hạnh phúc, thể hiện một trái tim yêu mãnh liệt luôn hướng về cái vô cùng, tuyệt đích như tâm hồn người phụ nữ không bao giờ chịu chấp nhận một tình yêu chật hẹp, tù túng, nhỏ nhen. Khát vọng chân thành, mãnh liệt của sóng, cũng là của người con gái khi yêu, được nhà thơ nhấn mạnh qua việc sử dụng các cụm: “không hiểu nổi”, “tìm ra tận”. Kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp truyền thống và nét hiện đại trong quan niệm về tình yêu và hạnh phúc, khổ thơ đã khắc họa lại những đặc tính của sóng, cũng là đặc tính của tình yêu, qua đó cho thấy hình ảnh người phụ nữ hiện đại chủ động tìm một tình yêu đích thực. Nếu ở khổ thơ đầu tiên, sóng được miêu tả trong không gian thì ở bốn câu thơ tiếp, Xuân Quỳnh lại khắc họa hình ảnh sóng trong chiều dài của thời gian:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Những danh từ chỉ thời gian ước lượng: “ngày xưa” và “ngày sau” gợi nên một khoảng thời gian vô tận, vĩnh hằng. Vậy mà, khoảng cách rộng lớn ấy lại bị lời khẳng định “vẫn thế” khỏa lấp. Khát vọng tình yêu của sóng trải qua muôn đời vẫn luôn không ngừng cháy bỏng.

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

Nỗi khát vọng ấy là khát vọng tình yêu của sóng, của người con gái, cũng chính là khát vọng của tuổi trẻ. Chỉ có người con gái ở độ tuổi thanh xuân khi yêu mới mâu thuẫn, chỉ có khát vọng tình yêu của tuổi trẻ mới mãnh liệt, “bồi hồi” lại lớn lao, vĩnh hằng như vậy. Chính khát vọng ấy đã thôi thúc nhân vật trữ tình đi tìm cội nguồn của tình yêu, mà cũng chính là cội nguồn của sóng:

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

Không còn ẩn mình sau hình tượng “sóng” nữa, nhân vật “em” lúc này đã xuất hiện trực tiếp. Đứng trước biển lớn mênh mông, “em” nghĩ về sóng bể, đối diện với những suy tư về nguồn gốc của sóng để tìm cho mình câu trả lời về nguồn gốc của tình yêu:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Sự trăn trở, nỗi khắc khoải của “em” khi đứng trước muôn trùng sóng bể, nghĩ về tình yêu được bộc lộ rõ nét qua điệp cấu trúc “Em nghĩ về” cùng những câu hỏi tu từ dồn dập: “Từ nơi nào sóng lên?”, “Gió bắt đầu từ đâu?”, “Khi nào ta yêu nhau?”. Vẫn biết sóng bắt đầu từ gió, nhưng gió bắt đầu từ đâu thì Xuân Quỳnh cũng không lí giải được. Cũng giống như tình yêu, người ta không bao giờ có thể hiểu được mình bắt đầu yêu từ khi nào.

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

Cho nên, nhà thơ đành thừa nhận sự bất lực của mình trong một cái lắc đầu duyên dáng:

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau?

Đặc biệt ở chỗ hai câu thơ sử dụng cấu trúc đảo, bạn đọc nhận được câu trả lời trước khi đọc câu hỏi, bởi người hỏi, người trả lời hay cũng chính là “em” đang bối rối và hạnh phúc- những xúc cảm mâu thuẫn của người con gái khi yêu. Tình yêu quá bí ẩn cũng thật huyền diệu, nó vượt lên trên mọi lí lẽ thông thường, hồn nhiên, giản dị mà cũng vô cùng trân quý. Cả tình yêu lẫn người con gái khi yêu đều như sóng, như gió, mãnh liệt, cháy bỏng, đằm thắm, hòa vào với những gì là tự nhiên nhất của đất trời. Những sắc thái phức tạp, phong phú đầy quyến rũ ấy của tình yêu đã diễn tả sâu sắc một trái tim yêu và khát khao yêu đang bồi hồi, rạo rực đầy nữ tính của người con gái đang ở lứa tuổi đẹp nhất của cuộc đời.

Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Sóng

Tình yêu chỉ có thể cảm nhận chứ không thể cắt nghĩa, cũng không lí giải được nó có từ nơi đâu, tuy nhiên khi yêu, ta lại có thể dễ dàng nhận ra nhưng thuộc tính của tình yêu, bởi đó cũng chính là những gì mà ta cảm nhận được. Viết nên những vần thơ này, Xuân Quỳnh đã gửi gắm vào đó những cảm xúc, trải nghiệm chân thật nhất của chính mình trong tình yêu. Trước hết, tình yêu đơn giản là nỗi nhớ:

Loading...

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Ca dao xưa từng có câu:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống rơm

Xuân Diệu cũng từng như bùng cháy trong nỗi nhớ tình yêu:

Anh nhớ lắm, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi…

Xuân Quỳnh cũng mượn hình ảnh con sóng nhớ bờ để thể hiện nỗi nhớ da diết của tình yêu. Sóng vốn hướng về bờ cát, chính hình ảnh những con sóng nối nhau xô vào bờ đã gợi lên trong tâm hồn nhà thơ những liên tưởng về nỗi nhớ. Con sóng được nhân hóa, có tình cảm, biết nhớ bờ, chính những con sóng ấy đã mang nỗi nhớ của tình yêu lan rộng ra cả biển lớn, lan rộng ra khắp không gian, bao trùm cả chiều dài thời gian. Cả không gian bao la như bị bao phủ bởi một nỗi nhớ thiết tha, dòng thời gian đằng đẵng như đắm chìm trong nỗi nhớ, da diết, khắc khoải. Sóng luôn liên tục vỗ bờ, bờ cát thì lại không vô tận, bởi thế bờ cát như khát vọng không bao giờ thỏa mãn của sóng. Mượn hình ảnh sóng để diễn tả nỗi nhớ của tình yêu, nếu như sóng thao thức, không ngủ được vì nhớ bờ thì “em” lại trăn trở một nỗi nhớ còn tiếp diễn ngay cả trong mơ. Mơ- thực lẫn lộn, nỗi nhớ anh của “em” không chỉ vượt cả không gian, thời gian mà còn xóa nhòa đi danh giới giữa miền ý thức và vô thức. Không chỉ nhớ mong da diết, Xuân Quỳnh còn bộc lộ dự cảm lo âu của một trái tim phụ nữ luôn khao khát tình yêu mãnh liệt nhưng lại có quá nhiều trải nghiệm đắng cay khiến sự tin tưởng vào tình yêu bền vững dần giảm bớt. Nhà thơ đã từng ví tình yêu mỏng manh như cánh chuồn, mà cuộc đời lại đầy giông bão, vậy nên với tâm hồn và trái tim của một người con gái khát khao yêu nồng cháy, có những lo âu như vậy cũng là điều thường thấy. Những con sóng dù ở dưới đáy biển, dù ở trên mặt nước đều luôn hướng về bờ, đều sẽ đến lúc xô vào bờ cát. Tình yêu của “em” cũng giống như vậy, luôn nhớ anh da diết, luôn một lòng thủy chung, hướng về anh dù anh ở bất cứ nơi đâu:

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

Thời gian, không gian đều là những thử thách mà tình yêu cần phải vượt qua. Người ta thường nói: “xuôi Nam ngược Bắc” nhưng ở đây, Xuân Quỳnh lại viết xuôi Bắc- ngược Nam, sự đảo lộn này dường như đang ngầm thể hiện dự cảm của nhà thơ về những éo le, trắc trở sẽ xuất hiện trong tình yêu. Tuy nhiên, là một thi nhân, một người phụ nữ coi trọng, tin tưởng vào tình yêu, Xuân Quỳnh khẳng định chỉ cần có sự thủy chung, tình yêu sẽ có thể vượt qua mọi thử thách dẫu cho thời gian có trôi qua, không gian có cách trở bao xa cũng không ngăn được tấm lòng son sắt “em” dành cho anh. Điệp từ “dẫu” đặt ở đầu mỗi câu thơ đã thể hiện niềm tin sắt đá của tác giả vào sức mạnh của tình yêu và sự thủy chung. Không còn là những rung động, bồi hồi của tuổi trẻ nhiệt huyết, ở khổ thơ này, tình yêu đã dần có những bước trưởng thành, mang dáng vẻ chững chạc, từng trải, gắn liền với hạnh phúc gia đình trọn đời. Khi đã cùng nhau trải qua bão tố cuộc đời, tình yêu còn lại trong “em” có một phần rất lớn của niềm tin.

Ở ngoài kia đại dương

Trăm nghìn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở

Con sóng cuối cùng đã xô vào bờ, người phụ nữ cuối cùng đã tìm được bến bờ hạnh phúc của tình yêu. Đó chính là niềm tin của nhà thơ, những người yêu nhau cuối cùng đều sẽ được ở bên nhau, chỉ cần đó là tình yêu chân thành, chung thủy. Xuân Quỳnh hoàn toàn có căn cứ để tin vào kết cục tốt đẹp của tình yêu, bởi cũng giống như người phụ nữ, những con sóng có thể vào đến bờ đều phải trải qua “muôn vời cách trở”. Đảo từ “muôn vời” lên trước “cách trở”, nhà thơ muốn nhấn mạnh: để đến được bến bờ hạnh phúc, con người phải trải qua rất nhiều những chông gai, thử thách. Tin vào một tình yêu trưởng thành như vậy, niềm tin ấy phải là lòng tin của một trái tim yêu đã vượt qua vô vàn giông bão cuộc đời để có được cho riêng mình một bến bờ hạnh phúc. Niềm tin ấy, vì thế, càng có sức thuyết phục hơn.

Xuân Quỳnh là nhà thơ có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, hiếm có ai dám khát vọng về một tình yêu bất tử- điều tưởng như sẽ chẳng bao giờ có thật- như chị. Khát khao một tình yêu bất tử, nhà thơ đã có những cảm nhận tinh tế về thời gian và đời người:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Cách diễn đạt “cuộc đời tuy dài thế” phải là của một người trẻ còn cả cuộc đời ở phía trước, một người trẻ đã có những ý thức sâu sắc về thời gian và đời người. Đó chính là mối quan hệ tương phản, đối lập giữa thời gian và đời người, giữa cái vô hạn và hữu hạn, như nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại?

Cuộc đời, nói dài thì dài, nói ngắn cũng thật ngắn. Với Xuân Quỳnh, cuộc đời tuy còn ở phía trước nhưng rồi thời gian trôi qua, cũng sẽ đến lúc kết thúc cuộc đời. Sử dụng biện pháp tu từ so sánh giữa biển và cuộc đời, nhà thơ đã khắc họa rõ hơn sự ngắn ngủi của đời người. Biển dù rộng đến đâu cũng có bờ, mây luôn vận động, bay khắp nơi chứ không thể dừng lại mãi trên biển. Thời gian không chờ đợi ai, huống chi cuộc đời rồi cũng sẽ đến lúc phải khép lại. Trước sự thật ấy, Xuân Quỳnh không khỏi lo âu cho tình yêu mà mình luôn tin tưởng. Chị đã tìm ra giải pháp để vượt lên quy luật nghiệt ngã của thời gian:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Giữa cuộc đời hữu hạn, Xuân Quỳnh vẫn mong đợi, tin tưởng vào một tình yêu vĩnh cửu. Nhà thơ mong muốn được hóa thân thành những con sóng, được “tan ra” trong biển lớn, cháy hết mình trong tình yêu, để được tồn tại mãi mãi với biển lớn tình yêu mênh mông. Khi con người không còn nữa thì tình yêu vẫn ở đó, tồn tại mãi với thời gian, đó là lí do nhà thơ muốn hóa thân trong tình yêu, để trái tim mình còn được gắn bó mãi với tình yêu, được dâng hiến hết mình cho tình yêu và hòa mình vào một tình cảm chung lớn lao, cao cả. Đó chính là lúc tình yêu đạt đến sự vĩnh hằng, cũng như những con sóng hòa mình trong biển lớn không bao giờ khô cạn bởi “ngàn năm còn vỗ”. Chỉ một từ “ngàn năm”, nhà thơ đã cho ta thấy sự vĩnh cửu, trường tồn của một tình yêu lớn lao, vĩ đại. Những câu thơ cuối cùng của Sóng đã nói lên hy vọng và niềm tin của Xuân Quỳnh về một tình yêu bất tử có sức mạnh vô hạn, vượt lên cái hữu hạn của đời người chật hẹp. Phải sống hết mình, dâng hiến hết mình trong tình yêu, chị mới có thể viết nên được những vần thơ đẹp, cảm động và tha thiết như vậy.

Nghệ thuật chủ đạo của toàn bộ bài thơ là nghệ thuật ẩn dụ khi Xuân Quỳnh sử dụng hình ảnh “sóng” để đại diện, tượng trưng cho tình yêu và người con gái khi yêu. Từ đó, nhà thơ cũng nhiều lần nhân hóa sóng, mang lại cho nó những cảm xúc, tâm trạng như một trái tim đang yêu tha thiết, say mê. Không phải là người đầu tiên mượn hình tượng sóng để nói về tình yêu nhưng Xuân Quỳnh lại là nhà thơ duy nhất lấy sóng biển làm biểu tượng cho người con gái, trong khi những tác giả khác đều coi biển là biểu tượng của người con trai, từ đó, ta càng cảm nhận được rõ hơn cái nồng nàn, mãnh liệt, hạnh phúc cháy bỏng và một trái tim yêu đập rộn ràng nhưng cũng đầy mâu thuẫn của người phụ nữ vừa mang nét đẹp truyền thống vừa chủ động tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc đích thực của cuộc đời mình.

Có thể nói, sau Xuân Diệu, không có nhà thơ nào viết về tình yêu hay như Xuân Quỳnh. Thơ chị hồn nhiên, dung dị mà sâu lắng, luôn có thể chạm đến trái tim người đọc bởi chị là một người phụ nữ, một thi nhân tha thiết với tình yêu, mãi mãi khát khao, mãi mãi thao thức về tình yêu. Suốt cả sự nghiệp sáng tác và cuộc đời mình, khát khao được hóa thân, được trường tồn cùng tình yêu vĩnh cửu của Xuân Quỳnh lúc nào cũng cháy bỏng, mãnh liệt, thiết tha.

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai cũng có

Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.

(Tóc hát)

Hải Anh