Phân tích bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng đạt điểm cao

0
Loading...
Phân tích bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng đạt điểm cao
Đánh giá bài viết

Phân tích bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng

Bài làm

Qua những vần thơ vừa hào hùng, bi tráng, vừa lãng mạn lại thấm đẫm chất nhạc mang được chất họ. Tây Tiến – bài thơ đã diễn tả hết sức chân thực về hiện thực cuộc kháng chiến chống pháp và vẻ đẹp của anh bồ đội cụ Hồ. Ngay từ phần ở đầu là hai câu thơ diễn tả nỗi nhớ da diết của nhà thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Câu thơ mở đầu bằng hình ảnh dòng sông Mã – biểu tượng của thiên nhiên vùng núi Tây Bắc và cũng chính là địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến. Không phải ngẫu nhiên mà sông Mã được nhắc tới hai lần ở khổ đầu và hổ thứ ba, bởi nó gắn bó với người lính Tây Tiến trên mỗi bước đường hành quân và là chứng nhân cho bao kỉ niệm một thời gian khó. Sông Mã được Quang Dũng nhắc đến bên cạnh binh đoàn Tây Tiến như một lời nhắc nhớ về bao kỉ niệm, bao cảm xúc vui buồn. Người đọc có thể nhận thấy chính giữa hai danh từ ấy dường như có chút xót xa, nuối tiếc qua từ “xa xôi”. Người đọc sẽ nhận thấy được thiên nhiên Tây Bắc lúc này cũng đã thực sự lùi xa trong quá khứ, và cũng giống như đoàn quân Tây Tiến chỉ còn là kỉ niệm. Câu thơ mở đầu dù không trực tiếp xuất hiện từ ‘nhớ’ mà nỗi hớ cứ tự nó trào dâng, hóa ra đó là nỗi nhớ thường trực khôn nguôi và được biểu lộ qua giọng thơ đầy nhạc tính.Ở câu thơ thứ hai, tâm trạng của tác giả trực tiếp xuất hiện qua điệp từ “nhớ’” đươc lặp lại hai lần có tác dụng nhấn mạnh, khắc sâu nỗi nhớ.Vần “ ơi” đươc điệp ba lần đã tạo tính nhạc cho lời thơ diễn tả nỗi nhớ trong lòng người đang trải dài, vang xa. “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lửng lơ, vô hình nhưng lúc nào cũng đau đáu, da diết. Quang Dũng luôn gửi hồn mình về miền tay bắc để thương để nhớ và để sống cùng những năm tháng hào hùng mà lãng mạn. Nỗi “nhớ chơi vơi” đã mở ra những kỉ niệm về chặng đường hành quân qua núi rừng Tây Bắc hiện lên mới thật hùng vĩ, hiểm trở nhưng vẫn ẩn chứa sự thơ mộng với những địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Mai Châu. Đó là nỗi nhớ trải dài theo không gian:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Cái huyền ảo, thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc được vẽ ra qua màn sương mù dày đặc che lấp, bồng bềnh như sương như khói, mơ hồ , huyền ảo….thiên nhiên từ chỗ chìm lấp đã dần dần lùi ra sau,trở thành phông nền thơ mộng cho người lính Tây Tiến xuất hiện. Họ đi trong sương, lẫn vào trong sương và ẩn hiện cái dáng mỏi mệt trên con đường hành quân dặm dài. Theo bước chân của người lính Tây Tiến, thiên nhiên Tây Bắc hiện ra với những hiểm trở và heo hút:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Nhà thơ tập trung khắc họa cảnh núi sâu, đèo cao, điệp trùng đến chất ngất; diễn tả cảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội và hiểm trở, nhà thơ sử dụng hàng loạt từ láy tượng hình cao: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút. Thành công trong việc diễn đạt sự hiểm trở,trùng điệp và độ cao ngất trời của núi rừng Tây Bắc. Trong câu thơ tác giả sử dụng từ “ngửi” – diễn tả độ cao của núi, núi cao khiến cho đầu súng như chạm tới mây trời, nhưng đồng thời từ “ngửi” còn diễn tả được sự mạnh mẽ, sự tinh ngịch hồn nhiên đậm chất lính.Trong câu thơ tiếp theo “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” với dấu phẩy ở giữa câu thơ, câu thơ như được bẻ gãy làm đôi, một nửa diễn tả chiều cao, một nửa diễn tả độ sâu, nhìn lên cao thì cao chót vót, nhìn xuống dưới thì sâu thăm thẳm. Nếu như ba câu thơ tập trung miêu tả cảnh núi cao, đèo sâu, với nhiều thanh trắc thì câu thơ thứ tư tác giả sử dụng thanh bằng, diễn tả hình ảnh người lính Tây Tiến như đang đứng trên một đỉnh núi cao phóng tầm mắt ra xa nhìn thấy những ngôi nhà thấp thoáng ẩn hiện trong bản làng , trong mưa rừng sương núi:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Phân tích bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Tây Tiến

Hai câu thơ tập trung khắc họa hình ảnh người lính gian khổ, hi sinh. Gian khổ thể hiện ở sự “dãi dầu” – trải qua nhiều gian khổ, gió sương chính vì vậy khiến cho họ không bước nữa. “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”,hình ảnh thơ đưa đến cho người đọc hai cách hiểu, cách thứ nhất câu thơ diên tả giây phút hiếm hoi của người lính sau cuộc hành quân mệt mỏi họ dừng chân, gối đầu lên súng mũ và chìm sâu vào giấc ngủ như bỏ lại những gian khổ hi sinh ; cách thứ hai những người lính Tây Tiến sau tất cả cuộc hành quân vất vả họ đã gục xuống từ giã cõi đời. Dù hiểu theo cách nào thì hình ảnh thơ cho thấy người lính Tây Tiến là những người coi thường hiểm nguy, gian khổ, mất mác hi sinh.

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nếu như hai câu thơ đầu nhà thơ đem đến cho người đọc cảnh núi cao đèo sâu vùng Tây Bắc thì hai câu thơ tiếp theo nhà thơ đem đến cho người đọc âm thanh huyền bí của núi rừng, đó là tiếng gầm của cọp beo, nơi rừng thiêng nước độc,nơi đại ngàn hoang vu. Đây là khoảng thời gian có tính quy luật, đồng thời đây là khoảng thời gian gợi lên sự rình rập “oai linh thác”, “cọp trêu người” là những âm thanh chất chứa những bí mật, uy lực khủng khiếp ngàn đời nơi chốn rừng thiêng nước độc.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Trong vô vàn nỗi nhớ cũng hiện lên bồi hồi tha thiết nhất. “Nhớ ôi” từ cảm thán mang tình cảm dạt dào, câu thơ tái hiện khung cảnh đậm đà tình quân dân. Sau một đêm hành quân vất vả giữa núi rừng phải chịu đói chịu khát, nay các ảnh được đồng bào tiếp đón bằng “cơm lên khói”, bằng mùi hương thơm xôi nếp. Chính không gian đó, khung cảnh đó đã đẩy lùi gian khổ khơi gợi không khí ấm cúng trong sinh hoạt gia đình, chính vì vậy nó khắc khoải ám ảnh mãi trong tâm trí.

Bốn câu thơ đầu của khổ thơ thứ hai cho ta thấy cảnh liên hoan thắm tình quân dân:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Câu thơ đầu tiên như một tiếng reo vui doanh trại bừng lên hội đuốc hoa vô cùng vui nhộn. Có thể nói đây là lần thứ hai lửa và đuốc được liên tưởng đến hoa. Nếu trong đêm sương ở Mường Lát chiến sĩ Tây Tiến nhìn đuốc soi đường lung linh huyền ảo mà thấy như “hoa về trong đêm hơi” thì lần này trong đêm liên hoan lửa trại giữa bản làng miền Tây Bắc. Nghệ thuật ẩn dụ và cảm hứng lãng mạn đã khiến cho ánh lửa bập bùng nơi đóng quân thành đuốc hoa rực rỡ, tất cả như gợi liên tưởng thi vị và tình tứ đem đến những niềm vui háo hức rạo rực cho lòng người. Thực sự niềm vui ấy khiến cho đêm liên hoan giữa bộ đội và dân làng trở thành đêm hội tưng bừng vui tươi và náo nhiệt của vùng miền Tây Bắc. Quang Dũng đã sử dụng cụm từ “bừng lên” như là một nốt nhấn đặc sắc vô cùng tươi sáng cho cả câu thơ. Và nó không chỉ đem đến ấn tượng về ánh sáng chói lòa, một thứ ánh sáng đột ngột của lửa của đuốc. Tất cả như cũng xua đi cái tối tăm lạnh lẽo của núi rừng, mà còn thể hiện niềm vui sướng rạo rực trong lòng người.

Người đọc có thể hình dung ra ánh mắt ngỡ ngàng, những gương mặt bừng sáng của các chiến sĩ vì sự phản chiếu của ánh lửa bập bùng trong đêm hội, bừng sáng cả vì những ngọn lửa ấm trong tâm hồn, ngọn lửa của niềm vui trẻ trung lạc quan,ngọn lửa của tình yêu với con người và cuộc đời, ngọn lửa của tình yêu với miền Tây Bắc. Có thể nhận thấy rằng chính nét nổi bật và đặc sắc nhất của bài thơ Tây Tiến cũng chính là hình ảnh những cô thiếu nữ miền sơn cước – hình ảnh trung tâm của hội đuốc hoa “kìa em xiêm áo tự bao giờ”, từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” bộc lộ cảm giác của người lính Tây Tiến như vừa ngỡ ngàng thú vị, đan xen một sự ngưỡng mộ trìu mến của các chiến sĩ trước sự xuất hiện của các cô thiếu nữ miền Tây Bắc. Đó là cảm giác chân thực trong một dịp vui hiếm hoi sau bao ngày hành quân giữa rừng già với thú dữ, dốc thẳm, sương dày. Các cô gái hiện lên với hai ấn tượng đẹp đẽ với bút pháp mĩ lệ hóa trong “xiêm áo” lỗng lẫy và nét e ấp đầy nữ tính. Những ấn tượng ấy khiến cho các cô thêm đẹp hơn trước đoàn quân xanh màu lá,duyên dáng hơn trước người lính “dữ oai hùm”.

Loading...

Thêm với đó nữa chính là một nét tương phản của cảm hứng lãng mạn dường như cũng đã tạo nên chất thi vị. Điều này đã làm dịu đi rất nhiều sự khắc nghiệt thảm khốc của chiến tranh. Người lính Tây Tiên không chỉ ngỡ ngàng thú vị trước vẻ đẹp của thiêu nữ mà còn mơ màng trong” man điệu” của núi rừng. “Man điệu” có thể hiểu là vũ điệu uyển chuyển của các sơn nữ, cũng có thể hiểu là những giai điệu say đắm ngọt ngào vừa hoang sơ vừa bí ẩn, vừa mới mẻ lạ lùng vừa say đắm lòng người. Với tâm hồn hào hoa và nghệ sĩ đặc biệt nhạy cảm với cái đẹp, người lính Tây Tiến say đắm, chiêm ngưỡng cảm nhận những hình ảnh rực rỡ, những âm thanh ngọt ngào của đêm lửa trại để được thả hồn phiêu diêu bay bổng trong thế giới mộng mơ, để được xây hồn thơ giữa những điệu nhảy, điệu múa, vẻ đẹp say người của phương xa đất lạ. Câu thơ có tới sáu thanh bằng đã giúp nhà thơ cảm thấy tinh tế, cảm giác mơ màng chơi vơi trong tâm hồn người chiến sĩ. Cảnh sông nước Tây Bắc được thể hiện rõ nét qua bốn câu thơ sau:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Những hoài niệm rực rỡ sống động về đêm lửa trại được thay bằng những bâng khuâng xa vắng trong nỗi nhơ mênh mông da diết về cảnh sắc con người miền tây, câu thơ đầu như một lời nhắn như tha thiết về miền tây “người đi Châu Mộc chiều sương ấy”, nỗi nhớ miền tây được gửi vào lời nhắn với người đi, thực ra đó cũng là cách nhà thơ để lòng mình da diết hướng về Châu Mộc, hướng về vùng núi rừng miền tây trong một chiều sương nhạt nhòa, màn sương huyền ảo của núi rừng,màn sương mờ của hoài niệm của nhớ nhung. Trong tiếng việt “ấy” là một đại từ chỉ định luôn đem đến sắc thái xa xôi mơ hồ cùng nỗi nhớ nhung tiếc nuối bâng khuâng cho những danh tư đứng trước nó như “thuở ấy, ngày ấy, người ấy…”.

Vào cuối năm 1948 khi đang ngồi ở Phù Lưu Chanh một ngôi làng thuộc thị xã Hà Đông, Quang Dũng đã nhớ về một chiều sương ấy với bao lưu luyến khi Châu Mộc trở nên nhạt nhòa trong sương khói và buổi chều miền Tây với cảnh với người với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình bị đẩy vào một quá khứ đã bị xa xăm. Sau lời nhủ thầm xao xuyến nhà thơ cất lên tiếng hỏi mà phép điệu trong cấu trúc: có thấy hồn lau, hay có nhớ dáng người dường như đã thể hiện được một nỗi nhớ nhung đầy trăn trở về cảnh và người Tây Bắc. Câu hỏi thứ nhất hướng về những bờ lau xám buồn bên bờ sông hoang dại “có thấy hồn lau nẻo bến bờ”. nét đặc sắc trong câu thơ là hình ảnh ẩn dụ “hồn lau” thay vì bờ lau, hàng lau hay rừng lau,…hoa lau có màu sáng trắng, bông lau được tạo bởi muôn ngàn hạt nhỏ li ti nên chỉ cần một chút gió nhẹ những bông lau mềm mại nhẹ nhàng cũng xao động cả bờ lau đung đưa, sắc trắng tinh khôi hiền hoặc, hoa lau trong chiều sương nhạt nhòa mờ ảo, cái phất phơ của ngàn lau đang xào xạt gió núi đã khiến rừng lau như có hồn như biết sẻ chia nỗi niềm với con người, sự giao cảm khiến cho nỗi nhớ càng mênh mông da diết khi đã xa miền Tây Bắc, câu hỏi “có thấy hồn lau nẻo bến bờ” càng làm xao xuyến lòng người; hoa lau thường mọc ven bờ sông triền núi, cụm từ “nẻo bến bờ” gợi không gian hoang vu, hiu quạnh, man mác u buồn nơi vắng người qua lại. Trong những năm tháng quá khứ người chiến sĩ Tây Tiến hành quân giữa núi rừng miền tây bên dòng sông Mã, lau như linh hồn của cỏ cây chia sẻ buồn vui của người chiến sĩ trên đường hành quân , nay người đã đi xa hàng lau vẫn ở lại mênh mông gió núi, hình dung những hàng lau cô đơn nẻo bến bờ nỗi nhớ càng trở nên da diết trong lòng người chiến sĩ đã từng gắn bó và chia xa miền Tây Bắc. Câu thơ tiếp theo dành cho con người miền Tây:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Trong màn sương mờ nhạt của hoài niệm khi nhà thơ để lòng mình trở về Châu Mộc trong buổi chiều sương ấy. Người đọc như nhận thấy hình ảnh con người Tây Bắc lúc này đây như hiện lên như một bóng dáng mờ xa huyền ảo. Dáng người ấy hiện lên cứng cỏi kiên cường, gợi vẻ đẹp khỏe khoán của các tràng trai, cô gái, những con người vùng Tây Bắc trên con thuyền độc mộc lao trên sóng nước. Cảm hứng ngợi ca những con ngườ ấy ta cũng gặp trong hình ảnh ông lái đò Mai Châu trong tác phẩm “Người lái đò sông đà” của Nguyễn Tuân. Ta không khỏi ngỡ ngàng, không khỏi ấn tượng với hình ảnh những bông hoa rừng như cứ làm duyên, làm dáng đong đưa như thể trôi theo dòng nước lũ. Thế rồi cũng chính trong cái khắc nghiệt, cái dữ dội vẫn luôn có vẻ đẹp của sự mềm mại, mong manh. Điểm nhìn lãng mạn giúp nhà thơ Quang Dũng có được những phát hiện rất nên thơ. Tám câu thơ của khổ thơ thứ hai như một bức tranh thanh sơ với chỉ vài nét chấm phá tinh tế, mềm mại mà thu được cái hồn của cảnh và con người Tây Bắc.Cũng qua những hình ảnh thơ đặc sắc ấy, ta còn cảm nhận được vẻ đẹp của người lính Tây Tiến – những tràng trai lãng mạn, đa tình, tài hoa.

Hình ảnh người lính Tây Tiến đã được nhắc tới trong hai khổ thơ trên nhưng phải đến khổ thơ thứ ba này mới hiên lên một bức tượng đài sừng sững được chạm khắc bằng những ngôn ngữ giàu chất tạo hình. Vẻ đẹp của họ được thể hiên qua vẻ đẹp tâm hồn, lý tưởng sống chiến đấu và cả sự hi sinh anh dũng. Quang Dũng không dùng từ “đoàn quân” mà lại dùng từ “đoàn binh” gợi lên một đội ngũ đông đảo, hùng dũng. Nhà thơ cũng miêu tả:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm.

Những người lính bị sốt rét nhiều đến mức rụng hết cả tóc và màu da thiếu máu xanh như lá cây rừng. Sốt rét không chỉ lấy đi màu xanh trên mái tóc mà còn làm cho mái tóc ấy không mọc lại đươc nữa. Vậy mà nhà thơ lại nói không mọc tóc chứ không nói không mọc được tóc, từ thế bị đông chuyển sang thế chủ động mà còn pha thêm chút ngang tàn mang đậm chất lính. Sốt rét làm cho ngoại hình của họ trở nên dữ dội, tiều tụy hẳn, cũng hòa hợp với thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ mà hiểm trở. Bên cạnh nét đẹp ngoại hình, họ còn là những chàng trai có chí lớn lại vừa có tình cảm sâu sắc. Ở họ những mộng ước chiến binh, những khát khao hoài bão đều được gửi gắm qua hình ảnh:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đôi “mắt trừng” gửi lên ánh nhìn mạnh mẽ, nội lực, ý chí quyết tâm chiến đấu về dân tộc cùng với đó là nỗi nhớ được thể hiện một cách cụ thể:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Những người lính Tây Tiến thì họ đều xuất thân là những thanh niên, học sinh, trí thức ở Hà Thành. Hà Nội không chỉ là quê hương của họ mà còn là thủ đô ngàn năm văn hiến, là trái tim của tổ quốc. Nhớ về Hà Nội là nhớ về trái tim thân yêu của Tổ Quốc, vừa gần gũi bình dị vừa cao cả, tự hào.Và trong nỗi nhớ lớn lao ấy, có một góc kỉ niệm hướng tới một “dáng kiều thơm” – dáng vẻ thướt tha, thanh lịch của những thiếu nữ Hà thành. Họ không chỉ giản đơn là những con người mang trong mình khát vọng chiến đấu mà còn có những rung động, mộng mơ của tuổi trẻ. Lính Tây Tiến còn là những người có lí tưởng sống, chiến đấu cao đẹp, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Khi đã xác định được mục tiêu cao cả ấy,cái chết đối với họ nhẹ tựa lông hồng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Bốn câu thơ diễn tả sự hi sinh mất mác của người lính. Nhà thơ Quang Dũng đã không ngừng ngần ngại né tránh khi nhắc tới sự gian khổ hi sinh, nhưng nhà thơ lại đem đến cho sự mất mác hi sinh ấy một vẻ đẹp lẫm liệt hào hùng. Câu thơ thứ nhất là một sự ám ảnh, là một hiện thực những người lính Tây Tiến đã hi sinh và nằm lại rải rác biên giới Việt – Lào, hình ảnh ấy gợi lên sự bi thương nhưng cái bi thương ấy đã bị lu mờ đi trước việc nhà thơ đã sử dụng hàng loạt các từ ngữ Hán Việt tạo nên sắc thái trang trọng, cổ điển khiến người lính Tây Tiến hiện lên như những vị tướng, họ ra đi sẵn sàng xả thả thân vì lí tưởng, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng – “chẳng tiếc đời xanh”. Câu thơ thứ ba lại tái hiện một hiện thực những người lính Tây Tiến khi hi sinh không có nổi một manh chiếu để khâm niệm mà phải chôn không, chôn họ với bộ quân phục trong chiến đấu hàng ngày nhưng cái gian khổ ấy qua cái nhìn của Quang Dũng lại trở nên sang trọng, thân thể như được bọc trong chiếc áo bào, “anh về đất” chứ không phải là chết, về đất không phải là hành động chỉ chôn xuống đất mà nó như một cuộc hành trình trở về nơi đã sinh ra để tiếp tục một hành trình mới và đón chào họ là sự nghiêng mình của đại ngàn của sông núi.

Khổ thơ cuối là lời thề sắc son của người lính Tây Tiến:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Bốn câu thơ cuối đã tô đậm cái không khí chung của người lính Tây Tiến, tâm hồn chung của người lính Tây Tiến; nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn nhưng cái linh hồn của đoạn thơ cuối vẫn toát lên vẻ hào hùng đó là tinh thần một đi không trở lại thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của đoàn quân Tây Tiến. Cho dù đã xa Tây Tiến nhưng tình cảm của những người lính vẫn gắn bó máu thịt với Tây Tiến với những nơi mà Tây Tiến đã đi qua. Tây Tiến đã trở thành nỗi nhớ, niềm tự hào không chỉ của riêng Quang Dũng mà cả muôn đời.

Minh Minh