Phân tích bài thơ Thu Điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến đạt điểm cao

0
Loading...
Phân tích bài thơ Thu Điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến đạt điểm cao
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ “Thu điếu” của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Bài làm

Một năm có bốn mùa, mỗi mùa lại mang một hương vị đặc trưng riêng. Mùa xuân là mùa nhựa sống, vạn vật thi nhau đâm chồi nảy lộc. Mùa hà là mùa của những cơn mưa rào mang đến nguồn sống vô tận cho cây cỏ tốt tươi, trái thêm ngon ngọt. Mùa thu nhẹ nhàng với sắc vàng của lá rụng cùng chút se lạnh đủ làm người ta mê đắm. Mùa đông với những cái lạnh cắt da nhưng lại khiến vạn vật nhớ mãi không quên. Trong bốn mùa ấy, có lẽ mùa thu vẫn có một chút đặc trưng gì đó cho những cảm xúc say đắm, nhẹ nhàng. Mùa thu mang một nét đẹp không lẫn vào đâu được và nó cũng là mùa yêu thích của các thi sĩ. Thu xuất hiện trong nhiều tác phẩm thơ ca. Riêng Nguyễn Khuyến cũng đã sáng tác chùm thơ thu với ba bài thơ nổi tiếng. Và bài thơ “Thu điếu” điển hình hơn cả khi nói về cảnh sắc làng quê Việt Nam đan xen tình cảm chân thành của người nghệ sĩ.
 

“Thu điếu” được viết bằng thể thất ngôn bát cú Đường luật. Lời thơ nhẹ nhàng, tinh tế và giàu cảm xúc. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến vẽ lên hình ảnh vô cùng quen thuộc của chốn thôn quê giản dị và thanh bình.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Trước mắt người đọc là một không gian nhẹ nhàng đầy sâu lắng. Ao là một cái gì đó quá đỗi quen thuộc với những người sinh ra ở nông thôn. Đó cũng là nơi chứa đựng biết bao kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp, là hình ảnh tượng trưng cho quê hương yên bình. Ao mùa thu lại mang một khí chất riêng. Nó không ồn ào như mùa hè, cũng không u ám như mùa đông. Ao mùa thu nhẹ nhàng, trong veo. Mặt nước tĩnh lặng, sương khói mùa thu bao trùm càng làm nước thêm trong. Những cơn gió se lạnh đi ngang trên mặt nước lại thêm phần “lạnh lẽo”. Cai lạnh ở đây vừa là lạnh của gió se nhưng cũng là cái “lạnh lùng” bởi sự tĩnh lặng và nhẹ nhàng của mùa thu.

Phân tích bài thơ Thu Điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Thu điếu

Trên nền nước trong veo ấy, nổi bật lên là hình ảnh chiếc thuyền câu. Mặt nước dềnh dàng, trải dài vô tận và chiếc thuyền trở nên bé lại, “bé tẻo teo” nhưng một nét chấm phá đầy ấn tượng. Dù nhỏ nhưng chiếc thuyền câu lại là hình ảnh trung tâm cho sự hiện diện của sự sống. Các từ ngữ “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo” đã gợi tả đường nét, hình dáng cũng như hương sắc của mùa thu. Âm vang lời thơ như tiếng thu đang vọng về trong tâm hồn người thi sĩ.

Hai câu thơ tiếp theo của bài thơ “Thu điếu” là những chuyển động mang nét đặc trưng của mùa thu.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Loading...

Màu biếc của sóng hòa cùng sắc vàng của lá như vẽ lên những gì nổi bật nhất của mùa thu. Trên nền mặt nước trong veo, tĩnh lặng, nhưng cơn sóng gờn gợn theo làn gió. Chúng di chuyển nhẹ nhàng, khoan thai không hề vội vã. Mọi thứ như đậm chất thu, mềm mại và uyển chuyển như một nàng thiếu nữ, dù nhẹ nhàng nhưng không hề thiếu đi sức sống mãnh liệt. 

Mặt nước dềnh dàng cùng những cơn sóng gờn gợn trôi và bên trên là sắc vàng của những chiếc lá mùa thu. Thu đến, lá đua nhau khoác lên mình màu sắc mới, trực chờ một cơn gió đi qua để thả mình rụng xuống. Tiếng lá mùa thu xào xạc, rơi “vèo” trên mặt nước bình yên. Một chữ “vèo” ở cuối câu thơ như khuấy động sự yên ắng trước đó. Nó là điểm nhấn nổi bật nhất của bốn câu thơ đầu, cũng là điểm đáng chú ý nhất của âm thanh mùa thu, mạnh mẽ và dứt khoát. Tiếng “vèo” của lá rơi như cân bằng tất cả.

Mùa thu như rộng hơn, bao la hơn qua hai câu thơ luận tiếp theo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Xanh ngắt là màu xanh có chiều sâu, thăm thẳm. Bầu trời thu dường như chẳng có lấy một gợn mây xám xịt. Toàn bộ không gian bao trùm bởi màu xanh hiền hòa cùng những đám mây trắng bồng bềnh đang nô đùa và lẳng lặng trôi. Màu xanh ấy vẽ nên một không gian sâu lắng, mênh mông cùng cái nhìn vợi vợi, xa xăm của người thi sĩ hay của ông lão đang câu cá. Thế rồi, ánh mắt ông liếc nhìn về ngôi làng thân thuộc. Hình như mọi người đã ra đồng hết, cả thôn xóm “vắng teo” chẳng một bóng người. Những con đường quanh co, xanh rì những trúc cũng đìu hiu chẳng thấy dáng người. Ngõ vắng, mặt nước nhẹ tênh, gió se từ từ thổi…nhẹ nhàng như bước chân của mùa thu nhưng lại mang một nỗi niềm bâng khuâng, man mác. Chỉ một mình lão nông câu cá giữa không gian mênh mông, hun hút. Tuy buồn là vậy nhưng nó gần gũi và thân thiết với con người lắm. Cảnh sắc mùa thu quê hương cũng nhờ đó mà đáng yêu và đong đầy cảm xúc.
Đánh tầm mắt đi khắp không gian, cái nhìn của người thi sĩ lại tập trung vào nhân vật trung tâm của bức vẽ.

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Tư thế của người câu cá mang đến sự an nhàn và tự do tự tại. “Tựa gối ôm cần” chẳng hề vội vã hay nóng lòng kiếm được món mồi ngon. Dường như lão nông ấy đi câu không phải vì mục đích kiếm cá mà như để thả mình vào không gian thu yên ắng và bình dị. Có chăng đó là tâm thế an nhàn của Nguyễn Khuyến khi thoát khỏi chốn quan trường đông đúc và thị phi để trở về cuộc sống dân giã chốn thôn quê? Đây cũng là lối sống thanh cao để giữ tâm hồn mình trong sạch, không bị nhuốm mùi tiền tài, công danh. Nhà thơ lựa chọn một cuộc sống an nhàn với ruộng vườn thân thuộc, với những buổi chiều vác cần câu cá chứ không phải chốn đô thị tuy đầy đủ vật chất nhưng đầy rẫy những rối ren và oan trái. 

Tâm hồn người câu đang thả mình vào sự tĩnh lặng của không gian thu bỗng nhiên bị giật mình bởi tiếng cá “động dưới chân bèo”. Đây vốn dĩ là âm thanh nhưng nó lại càng lột tả thêm vẻ vắng lặng. Chỉ khi yên ắng quá thì tiếng cá dưới sâu lớp chân bèo mới đủ để ta nghe thấy và bất giác giật mình. Người thi sĩ cũng nhờ đó mà thoát khỏi giấc mộng mùa thu để trở về với thực tại. Trời thu, cảnh thu và âm thanh của mùa thu như chính nỗi niềm của tác giả, man mác, bâng khuâng, cô đơn và trống vắng.

Bài thơ “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của tác giả. Những gam màu trầm lắng, những nét vẽ xa xăm đầy tinh tế và gợi cảm. Để từ đó làm nổi bật lên tình yêu quê hương, đất nước da diết của Nguyễn Khuyến, một vị quan yêu nước thương dân nhưng phải lựa chọn kiếp sống ẩn dật để giữ cho tâm hồn mình được thanh sạch, không nhuốm màu quan trường đầy tăm tối. 

Seen