Phân tích bài thơ Thương vợ của nhà thơ Tú Xương đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Thương vợ của nhà thơ Tú Xương

Bài làm

Trong lịch sử văn học phong kiến, thơ viết người vợ không nhiều, Tú Xương không những lấy vợ làm đề tài, hình tượng sáng tác chính trong những tác phẩm của mình mà ông còn viết rất nhiều cũng rất hay. “Thương vợ” là một trong những bài thơ hay nhất, cảm động nhất của ông khi viết về bà Tú. Bài thơ không chỉ thể hiện tình cảm tác giả dành cho người vợ đảm đang, vất vả của mình mà còn là lời tự giễu bản thân trước thực tại cuộc sống khó khăn khiến người vợ phải trở thành trụ cột của gia đình.

Vốn xuất thân trong một gia đình Nho học lâu đời, thông minh lại có tài nên từ khi mới 15 tuổi, Tú Xương đã bắt đầu đi thi, đến năm 24 tuổi thì đỗ Tú tài nhưng về sau lại thi mãi mà không đỗ Cử nhân vì lẽ “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”. Thi hỏng hết lần này đến lần khác, gia đình Tú Xương rơi vào cảnh nghèo túng, ông phải trở thành “quan tại gia”, “ăn lương vợ”, đồng nghĩa với việc vợ của nhà thơ luôn phải làm lụng vất vả, hàng ngày bươn chải lo cho gia đình. Chuyện này trong xã hội phong kiến thực dân đã trở nên rất phổ biến, nhưng người viết những bài thơ ca ngợi, biết ơn những người vợ đảm đang phải gánh trên vai cả gia đình như thế lại vô cùng hiếm. Xuất phát từ tình yêu thương và lòng viết ơn của mình, Tú Xương đã viết nên bài thơ “Thương vợ” như một cách thể hiện tình cảm của mình với người vợ tần tảo thức khuya dậy sớm chăm lo từng miếng cơm manh áo. Thi phẩm được viết theo thể thơ quen thuộc với sự nghiệp sáng tác của Tú Xương- thất ngôn bát cú với cấu trúc bốn phần đặc trưng: Đề- Thực- Luận- Kết. Phần mở đầu của bài thơ, hai câu Đề, có lẽ là phần để lại ấn tượng đầu tiên đặc sắc nhất cho bạn đọc khi tác giả đã gợi nên hình ảnh bà Tú vất vả nuôi chồng, nuôi con:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Nhấn mạnh đến yếu tố thời gian và không gian, nhà thơ càng làm nổi bật lên những vất vả trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày của bà Tú. “Quanh năm” không phải là một mốc hay khoảng thời gian nhất định mà lại mang nghĩa triền miên, hết ngày này sang ngày khác, hết tháng này sang tháng khác, bốn mùa không ngơi nghỉ. Một khoảng thời gian được lặp lại vô tận, không có điểm ngừng. Ta dường như có cảm nhận, bà Tú phải làm việc suốt cả một đời người, cũng chưa từng có lúc nào được nghỉ ngơi. Chỉ qua một danh từ chỉ thời gian, Tú Xương đã họa nên trước mắt người đọc hình ảnh một con người như luôn phải gồng lên, phải căng ra làm việc mà chỉ cần trùng xuống một ngày thôi là cả gia đình sẽ đói, cuộc sống sẽ bị đảo lộn. Công việc buôn bán vất vả như thế, nếu làm ở một ngôi chợ bình thường như bao nơi khác thì có lẽ không khó nhọc đến thế. Bà Tú lại buôn bán ở “mom sông”. “Mom sông” là một mũi đất nhô ra phía lòng sông, chênh vênh, chon von. Buôn bán ở một nơi như thế, con người phải đối mặt với bao khó khăn, vất vả, cũng có cả nguy hiểm luôn trực chờ sẵn. Hiểu được hoàn cảnh làm việc của bà Tú, ta lại càng cảm thương cho một người phụ nữ phải xông pha nơi đầu ghềnh cuối bãi, sông sâu nước cả, vất vả, tội nghiệp. Một công việc nặng nhọc, hiểm nguy như thế, vì lẽ gì lại để một người phụ nữ phải đảm đương, câu thơ thứ hai đã lí giải cho độc giả thắc mắc đó. Chính là vì gánh nặng gia đình phải nuôi không chỉ năm đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn còn thêm một ông chồng làm “quan tại gia”. Gánh nặng này thật sự là quá sức với một người đàn bà vốn không phải xuất thân từ con nhà lam lũ, lầm than như bà Tú. Về hai câu thơ đếm con, đếm chồng này, nhà thơ Xuân Diệu đã có lời bình rất hay: “Thì ra chồng cũng là một đứa con dại để vợ phải nuôi”. Vả lại, nuôi ông Tú cũng vất vả bằng nuôi cả năm đứa con. Nuôi con là nuôi ăn, nuôi mặc, lo học, lo hành, còn nuôi ông Tú thì không chỉ có vậy, còn phải phụng thờm chiều chuộng, mà Tú Xương vốn là một người chồng trái tính, mải chơi. Tuy nhiên, không phải Tú Xương không biết vợ mình phải vất vả như thế nào. Tự nhận mình cũng là một đứa con dại để vợ phải nuôi, câu thơ của Tú Xương vừa mang sắc thái trữ tình vừa mang sắc thái trào phúng. Trữ tình bởi qua hai câu Đề, bạn đọc có thể cảm nhận được lòng biết ơn mà tác giả dành cho vợ, nhưng cũng đồng thời, câu thơ mang một sắc thái trào phúng sâu sắc khi ông tự nhận mình là một người chồng vô tích sự, là đứa con đặc biệt mà vợ phải nuôi. Câu thơ diễn tả nỗi khổ tâm của một người có tài mà không được thi thố tài năng, có tài mà phải để vợ một mình kiếm miếng cơm manh áo nuôi sống cả gia đình.

Công việc vất vả của bà Tú kéo dài “quanh năm” nên nỗi vất vả ấy dường như cũng được Tú Xương kéo dài thêm trong tác phẩm của mình với hai câu Thực:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Loading...

Ca dao xưa vẫn dùng hình ảnh con cò để nói về những người phụ nữ làm nông nghèo khổ, lam lũ, lặn lội một nắng hai sương kiếm ăn để nuôi mình, nuôi con. Từ hình ảnh con cò trong ca dao, Tú Xương liên tưởng tới hình ảnh bà Tú. Từ “lặn lội” được đảo lên đầu câu thơ để nhấn mạnh vào sự lam lũ, vất vả. Hình ảnh “lặn lội thân cò” lại đặt trong khung cảnh “quãng vắng” càng tô đậm thêm hình ảnh bà Tú một mình thui thủi bươn chải kiếm sống. Con cò trong ca dao “gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, nghĩa là còn có người chia sẻ, còn hình ảnh “con cò” trong thơ Tú Xương thì cô đơn, vất vả mà chẳng biết chia sẻ cùng ai, chỉ biết căn răng chịu đựng qua từng ngày từng tháng. Không chỉ vất vả, cực nhọc, công việc của bà Tú còn chứa đựng những hiểm nguy khôn lường lúc quãng vắng, khi buổi đò đông. Ông cha ta xưa đã có câu: “Con ơi nhớ lấy câu này/ Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”, biết vậy mà bà Tú vẫn phải lăn lưng vào kiếm sống, phải chen chúc trên những chuyến đò đưa khách sang sông chật hẹp, bấp bênh, chơi vơi quá chừng. Đâu chỉ có chuyện xô đẩy, chen chúc, người ta còn phải “eo sèo” để tranh hàng, giành khách,… Hình ảnh bà Tú vốn đã vất vả, cực nhọc, qua hai câu Thực lại càng mảnh mai, yếu đuối đến nao lòng.

Phân tích bài thơ Thương vợ của nhà thơ Tú Xương đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Thương vợ

Trong mối quan hệ với chồng con, bà Tú hiện lên dưới ngòi bút của Tú Xương trong hai câu thơ Luận mang vẻ đẹp truyền thống đáng quý của người phụ nữ Việt Nam.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Hiểu được lòng vợ, hai câu thơ như lời độc thoại nội tâm của bà Tú mà ông Tú đã nói hộ nỗi lòng bà. Đó là sự chấp nhận, cũng là sự hy sinh đến tuyệt đối đầy cao cả và tình nghĩa. Tú Xương hiểu và tri ân vợ mình bởi ông biết bà Tú đã âm thầm chịu đựng bao nỗi vất vả vì chồng, vì con, mà không một lời than vãn, đòi hỏi. Cũng vì thương vợ mà ông Tú tự nhận mình là một người chồng đoảng, vô tích sự, là cái nợ của vợ. Sống với ông Tú, cái duyên, niềm hạnh phúc thì chỉ có một nhưng vất vả, gánh nặng đè lên vai bà Tú thì thật nặng nề. Chồng là một cái nợ, con cái là một cái nợ, “hai nợ” ấy đè nặng lên vai bà Tú. Đọc đến đây, chân dung bà Tú đã hiện lên một cách hoàn chỉnh, từ quan hệ với cuộc đời đến quan hệ gia đình, chồng con, là một người phụ nữ vừa đảm đang, tháo vát lại đức độ, thảo hiền, giàu tình yêu thương, giàu đức hy sinh. Có thể nói, bà Tú chính là hình ảnh điển hình của người phụ nữ Việt Nam truyền thống với những phẩm hạnh đáng trân trọng.

Đúng với phong cách trào phúng của Tú Xương, ông đã kết lại bài thơ bằng một lời chửi đổng:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

Nếu như sáu câu thơ đầu ông Tú khắc họa nên một cuộc đời đầy vất vả, đắng cay, buồn tủi của vợ thì đến hai câu Kết này lại là một cảm xúc hoàn toàn trái ngược nhưng vẫn khéo léo nối tiếp mạch cảm xúc của toàn bộ thi phẩm. Dường như không chịu nổi sự dày vò, day dứt vì đã làm khổ vợ, ông Tú giận đời, giận mình mà tự chửi mình, chửi đời. Có lẽ nhiều bạn đọc cũng sẽ có chung suy nghĩ với nhà thơ, cảm thấy ông Tú là một người chồng không xứng đáng với công lao, tình yêu thương và sự hy sinh của vợ mình. Đó cũng chính là lí do ông tự chửi mình. Tuy nhiên, qua lời chửi ấy, ta lại càng cảm nhận được lòng biết ơn và tình yêu của Tú Xương dành cho người vợ tần tảo, đảm đang của mình. Tự nhận mình là kẻ “bạc”, là kẻ đã “hờ hững” với vợ, nhưng sự thật có lẽ bạn đọc đều có thể cảm nhận được. Tú Xương không phải là một người chồng “hờ hững” với vợ của mình, ông không hề muốn làm khổ bà. Một người chồng luôn đem hình ảnh vợ mình với những vẻ đẹp, phẩm hạnh đáng quý vào trong vô số những tác phẩm của mình sao có thể là một người chồng hờ hững, vô tâm? Có trách thì nên trách thời đại, xã hội phong kiến thực dân đã tàn nhẫn vô hiệu hóa một lớp người như ông trong xã hội, biến ông thành một người thừa, một thứ “quan tại gia ăn lương vợ”.

Bài thơ “Thương vợ” không chỉ thành công ở nội dung sâu sắc, cảm động mà còn gây ấn tượng ở nghệ thuật đặc sắc với ngôn từ bình dân mà đẹp đến chuẩn xác, đặc biệt, với việc sử dụng thể thơ Đường luật, Tú Xương đã trở thành cầu nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại. Với lòng thương vợ sâu sắc, ông Tú đã hiểu được nỗi vất vả, đức hy sinh và tình yêu thương của bà Tú, đồng thời cũng thể hiện lòng biết ơn của mình với bà. Chẳng phải tìm kiếm đâu xa, một người phụ nữ quanh năm buôn bán, làm lụng vất vả như bà Tú đã trở thành nàng thơ cho những tác phẩm để đời của Tú Xương với những tình cảm đặc biệt.

Hải Anh