Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận đạt điểm cao

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng giang của nhà thơ

Bài làm

Là một nhà thơ lớn của thi ca Việt Nam , sự nghiệp sáng tác của Huy Cận trải dài từ trước Cách mạng tháng Tám đến khi đất nước hoàn toàn hòa bình, độc lập. Trước Cách mạng, ông là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới ngay từ tập thơ đầu tay- Lửa thiêng (1940). Được Xuân Diệu nhận xét là “một bản ngậm ngùi dài”, cả tập Lửa thiêng mang một cảm xúc chung, đó là nỗi buồn, mà thể hiện rõ nét nhất tâm trạng ấy có lẽ chính là thi phẩm Tràng giang.

Bài thơ ra đời nhờ vào cảm hứng của Huy Cận vào một buổi chiều mùa thu năm 1939, ông đứng ở bờ Nam bến Chèm nhìn ngắm dòng sông Hồng mênh mang sóng nước. Đây là thú vui, cũng là hoạt động nuôi dưỡng tâm hồn thơ của tác giả vào mỗi chiều chủ nhật, ông lại có thói quen đi ngắm cảnh sông Hồng. Nhan đề bài thơ là một từ Hán- Việt: “tràng giang” có nghĩa là sông dài. Với hai âm “ang” đi liền nhau tạo âm hưởng vang xa, độc giả như được dòng sông không chỉ dài mà còn rất rộng. Cùng với cách đặt nhan đề bằng từ Hán- Việt, Huy Cận đã thành công đem đến cho tác phẩm của mình sự trang trọng, cổ kính, thậm chí còn có chút trừu tượng. Từ đó, dòng sông Hồng cụ thể trở thành dòng tràng giang rộng lớn, hùng vĩ, mang đầy cảm xúc, tâm trạng. Đó là sự bâng khuâng, buồn nhớ, cũng chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, mà bạn đọc tinh ý sẽ nhận ra ngay trong lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Để phát triển, bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mình, nhà thơ đã thể hiện hai bức tranh- bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng với nỗi buồn vũ trụ và nỗi buồn nhớ, tình yêu quê hương, đất nước.

Hình ảnh tràng giang- hình ảnh trọng tâm của toàn bộ thi phẩm- hiện lên ở khổ thơ đầu tiên mang một phong vị cổ điển của thơ Đường mà vẫn có những nét mới, nét hiện đại trong cảm xúc mà tác giả bộc lộ:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Giữa một dòng sông lớn, nhà thơ lại chọn “sóng gợn” là hình ảnh mở đầu. Những lớp sóng nhỏ lăn tăn, nối nhau lặng lẽ lan tới tận chân trời như càng làm nổi bật thêm sự rộng lớn, hùng vĩ có phần trống trải của dòng tràng giang. Sử dụng từ láy “điệp điệp” ở cuối câu thơ, tác giả vừa gợi ra hình ảnh vừa gợi nên cảm xúc trong lòng bạn đọc. Sóng buồn điệp điệp, mỗi lớp sóng là một lớp buồn nối nhau vỗ vào lòng thi nhân. Chính nhà thơ Huy Cận từng kể lại: “Nhìn dòng sông lớn gợn những lớp sóng nhỏ, tôi thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra như những lớp sóng”, ta như thấm thía được nỗi lòng nặng nề lại trống vắng, hiu quạnh trước một cảnh sông buồn . Đó là nỗi buồn do sóng nước tạo ra hay chính là nỗi buồn trong lòng người. Các nhà thơ thời Huy Cận thường mang một nỗi buồn chung, nỗi buồn không tìm được lối thoát cho cuộc đời bế tắc, nên cứ kéo dài triền miên, ngột ngạt, bí bách. Theo sự xuất hiện của các sự vật, nỗi buồn không những không giảm đi mà còn ngày càng tăng thêm. Con thuyền vốn thường gợi hình ảnh kiếp người trôi nổi, lênh đênh trong cuộc đời, nay hiện lên dưới ngòi bút của Huy Cận lại thả mình trôi vô định trên dòng tràng giang rộng lớn, phó mặc cho sóng đẩy nước đưa. Hình ảnh “con thuyền xuôi mái” ta cũng đã từng bắt gặp trong thơ Bà Huyện Thanh Quan:

Gác mái ngư ông về viễn phố

Cùng dùng một hình ảnh nhưng ở câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan, ta còn cảm nhận được chút hơi ấm của khi ngư ông sau một buổi đánh bắt cá trở về sum họp với gia đình của mình, còn con thuyền xuôi mái trên dòng tràng giang trong thơ Huy Cận lại trĩu nặng một tâm sự cô đơn. Con thuyền thả trôi tự do để lại trên mặt sông những vệt nước song song, kéo dài vô tận khiến người ta bất giác liên tưởng đến sự chia ly vô cùng- hai vệt nước ấy sẽ chẳng bao giờ có thể gặp được nhau. Thuyền và nước vốn gắn bó với nhau ngay cả trong những lúc thuyền cô đơn, vậy mà cuối cùng chia ly vẫn đến, thuyền xuôi về bến bỏ lại nước mênh mông trăm ngã rẽ trong nỗi buồn vô tận, thuyền và nước nay đã chia lìa đôi ngả. Cảnh vô tri nhưng dưới cái nhìn cô đơn của Huy Cận bỗng mang tâm trạng, khiến độc giả cũng nặng lòng theo. Dòng tràng giang bỗng trở thành dòng sông sầu cuồn cuộn chảy đi trăm ngả. Đối lập với không gian bát ngát nỗi buồn ấy của tràng giang, nhà thơ đã khéo léo đặt vào đó một cành củi nhỏ. Cành củi khô bập bềnh, trôi dạt trên sông là một nét mới lạ, sáng tạo, lấy hình ảnh từ chính đời sống chân thực. Đây là một điều hiếm thấy trong thơ cổ, một nền thơ thường nghiêng về những cái tao nhã, mang tính ước lệ. Sử dụng một hình ảnh có sức gợi lớn như cành củi khô, nhà thơ muốn hướng độc giả về nơi núi rừng đầu nguồn, từ một cành cây tràn đầy sức sống đã trở thành một cành củi khô trôi dạt trên sóng nước tràng giang. Thân phận của cành củi đáng thương ấy đã bao lần chìm nổi, bao lần bị vùi dập, khô héo đến đau thương như vậy? Với việc sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ- đảo từ “củi” lên đầu, nhà thơ muốn nhấn mạnh vào hình ảnh “củi”, từ đó làm nổi bật cái mỏng manh, yếu ớt, cạn kiệt sức sống của sự vật. Hình ảnh cành củi khô trôi nổi bập bềnh, lạc giữa dòng tràng giang rộng lớn đã gợi cho người đọc cảm giác bơ vơ đến tuyệt vọng của kiếp người. Ở khổ thơ đầu tiên này, Huy Cận miêu tả những sự vật trên sông, những tưởng sẽ làm cho cảnh ấm áp, vui tươi, thế nhưng dòng tràng giang với những “sóng” “buồn điệp điệp”, “con thuyền xuôi mái” hay “củi một cành khô” lại chỉ khiến cho cảnh càng thêm lạnh lẽo, thê lương. Dòng tràng giang được mở ra trong cả chiều rộng của không gian, chiều sâu của và nỗi buồn của lòng người.

Xem thêm:  Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh Ngày Hè của Nguyễn Trãi đạt điểm cao

Không gian thang vắng, tĩnh lặng, mênh mông khiến lòng người càng buồn hơn:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Với nỗi cô đơn, trống vắng, tác giả nhìn về hai bờ sống để tìm kiếm hơi ấm của sự sống nhưng lại chỉ thấy một không gian mênh mông, hoang vắng đến vô cùng. Giữa mênh mang sông nước ấy, những cồn cát nhỏ hiện lên không chỉ làm nổi bật sự rộng lớn đến choáng ngợp của dòng tràng giang mà còn khắc họa một hình ảnh úa tàn, thiếu sức sống, lạnh lẽo, đìu hiu của những cây cỏ mọc “lơ thơ” trên cồn cát. Huy Cận từng nói ông đã mượn từ “đìu hiu” từ truyện thơ “Chinh phụ ngâm”:

Non Kì quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

Loading...

Ở khổ thơ thứ hai này ta đã thấy có sự xuất hiện của âm thanh . Đó là tiếng xao xác loáng thoáng đâu đó ở một phiên chợ chiều phía xa. Tuy đã có âm thanh của chợ, của đời sống con người nhưng cách Huy Cận đưa từ “Đâu” vào ngay đầu câu thơ lại mang đến cảm giác xa xôi, như có như không, như thực như ảo, càng làm tăng thêm sự yên tĩnh, vắng lặng của không gian nơi đây nhờ nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Nỗi buồn không chỉ thấm vào lòng tác giả- nỗi buồn của một phiên chợ tàn, nỗi buồn của một ngày tàn; nó còn lan ra, mênh mang trong không gian vô tận, nâng lên thành nỗi sầu vũ trụ. Không gian được mở ra theo những chiều đối nghịch nhau: lên cao, xuống thấp, chiều dài, chiều rộng qua những từ “trời lên”,“nắng xuống”, “sông dài”, “trời rộng”. Một không gian bốn chiều mở rộng trên trang thơ, độc giả dường như được đứng trong chính không gian đó, cảm nhận sự độc đáo được Huy Cận diễn tả qua từ “sâu chót vót”. “Chót vót” vốn là từ được dùng để chỉ độ cao nhưng với cách dùng từ của nhà thơ, ta có lẽ đã hình dung ra hình ảnh thực trong câu thơ này, chính là khi bầu trời in bóng dưới đáy sông sâu. Với cách miêu tả đặc sắc của Huy Cận, “sâu chót vót” vừa gợi được độ cao vừa diễn tả được độ sâu, làm cho không gian như được mở rộng gấp hai lần. Trong không gian hun hút sâu, hun hút cao, mênh mông dài, mênh mông rộng ấy, con người càng trở nên rợn ngợp, bé nhỏ hơn. Ta bắt gặp ở khổ thơ này hình ảnh “sông dài” và “trời rộng” cũng đã từng xuất hiện ở câu thơ đề từ. Ở lời đề từ, dấu ấn cảm thức không gian của Huy Cận được thể hiện qua sự bâng khuâng khi ngắm cảnh vật, còn ở câu thơ này, sông và trời được đặt trong mối quan hệ tương phản với “bến cô liêu”- một bến sống vắng vẻ, trơ trọi. Hình ảnh “bến cô liêu” bơ vơ giữa trời rộng, sông dài đã gợi lên tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng của con người trước vũ trụ bao la, trước nỗi sầu của bản thân và nỗi sầu của vũ trụ.

Xem thêm:  Phân tích những, nét đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của nhân vật bà Hiển trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Tràng giang

Khổ thơ thứ ba, cảnh vật tuy đã có màu sắc tươi tắn hơn, song nỗi buồn thì lại càng tăng thêm bởi không gian trống vắng, cô quạnh không tài nào thoát khỏi dòng tràng giang:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Những cánh bèo trôi trên mặt sông hay bờ xanh, bãi vàng đã điểm vào bức tranh tràng giang những sắc màu đầu tiên, nhưng cảnh không vui hơn, lòng người càng buồn hơn. Cũng giống như hình ảnh con thuyền xuôi mái hay cành củi khô, những cánh bèo hàng nối hàng không biết sẽ trôi dạt về đâu trên mặt sông dễ dàng khiến người đọc liên tưởng tới những kiếp phù du trôi nổi, những thân phận nhỏ bé bị dập vùi trong xã hội. Sự cô đơn cứ được nối liền, tiếp diễn từ câu thơ này sang câu thơ khác, tạo nên một hệ thống hình ảnh, thay nỗi lòng tác giả nói lên bi kịch của những kiếp người sống buồn, sống lặng trong đêm đen vô định, không lối thoát trước Cách mạng. Nỗi sầu đơn độc ấy đã trải dài ra hai bên bờ sông, cảnh rất đẹp nhưng lại rất tĩnh, im lìm như tranh vẽ. Cho dù bức tranh ấy đã được điểm màu, có sắc xanh, sắc vàng vui mắt, nhưng không biết vì sao mà những sắc màu ấy hình như lại bay đi hết, chỉ còn lại màu của thê lương, ảm đạm, chia lìa. Từ “lặng lẽ” đứng ở đầu câu thơ vừa để nhấn mạnh vào sự im lặng của không gian vừa diễn tả được sự rời rạc, đơn độc của những “bờ xanh”, “bãi vàng” tuy ở cạnh nhau nhưng lại không có mối liên kết nào. Mỗi sự vật dường như là một thế giới riêng, khép kín, cô quạnh. Đứng trước dòng sông mênh mông, cảnh vật quạnh quẽ ấy, nỗi tuyệt vọng, bơ vơ cứ dâng dần lên trong lòng tác giả, khiến ông khát khao giao cảm với con người hơn bao giờ hết. Dấu hiệu sự sống của dòng sông là cây cầu và con đò nối liền không gian xa cách, xóa đi sự biệt ly. Hai hình ảnh này thường xuất hiện trong thơ ca, mang đến tình người và tình yêu thương quê hương tha thiết, nồng ấm:

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

hay:

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông

Dòng tràng giang trong thơ Huy Cận vốn đã rộng lớn, mênh mông lại không cầu, cũng không đò, điều này cũng đồng nghĩa với việc không hề có hình bóng con người, càng không gợi lên mối quan hệ giữa người với người. Trong tâm trạng cô đơn, nhà thơ muốn kiếm tìm bóng dáng một chuyến đò, một cây cầu để nối liền khoảng cách giữa hai bên bờ sông nhưng tất cả đều không có. Điệp từ “không” vang lên như một nỗi hốt hoảng của tác giả, như xoáy sâu vào lòng người một nỗi cô đơn, tuyệt vọng không cách nào giải thoát được. Hai bên bờ sông phải chăng cũng sẽ giống như hai vệt nước trên mặt sông, mãi mãi không bao giờ gặp nhau được?

Nội dung cảm xúc và nghệ thuật của toàn bộ bài thơ đều được kết tinh ở khổ thơ cuối cùng, đó là nỗi sầu vũ trụ, tâm trạng buồn nhớ quê hương, cũng là nghệ thuật đối lập tương phản, màu sắc cổ điển được thể hiện trong toàn bộ bài thơ.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Chỉ với tập thơ đầu tay- Lửa thiêng, Huy Cận đã gây được tiếng vang lớn trên văn đàn Thơ mới nhờ các tác phẩm mang màu sắc cổ điển nhưng vẫn luôn in đậm dấu ấn tâm trạng của các thi sĩ thời kì này. Cái cổ điển mà ta thấy trong Tràng giang rõ nét nhất chính là các hình ảnh ước lệ mà tác giả sử dụng: cánh chim và làn mây. Thơ xưa sử dụng hai hình ảnh này như một lối nói ẩn dụ về thời gian- buổi chiều, thơ Huy Cận cũng vậy. Hai hình ảnh chim và mây trong Tràng giang không chỉ là nghệ thuật lấy không gian để tả thời gian mà còn gợi lên trong lòng độc giả một nỗi buồn đến hiu quạnh khi hình ảnh cánh chim hiện lên giữa bầu trời rộng lớn, mây tầng tầng lớp lớp “đùn” ra như núi, choáng ngợp cả bầu trời, ánh mặt trời chiếu vào lại làm cho núi mây sáng lấp lánh như núi bạc. Chữ “đùn” độc đáo này Huy Cận học từ bản dịch thơ trong bài Đăng cao:

Xem thêm:  Bình giảng đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, từ: "Ngày Tết, Mị cũng uống rượu (...) Mị nín khóc Mị lại bồi hồi"

Mặt đất mây đùn cửa ải xa

Giữa cảnh tượng thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ lại đặt vào đó một cánh chim nhỏ, cánh chim đáng thương dường như chao đảo cả thân hình nhỏ bé bởi sức nặng của núi mây, của bóng chiều tà rợn ngợp, cũng giống như tâm trạng chung của những nhà thơ mới thời bấy giờ, cô đơn, bơ vơ, lạc lối giữa cuộc đời vô tận lại không có lấy một lối đi đúng đắn cho cuộc đời. Cánh chim nhỏ bé như tan trong bóng chiều, như mất hút vào vũ trụ bao la, trĩu nặng bóng hoàng hôn, trĩu nặng cả tâm trạng, nỗi buồn, cô đơn của các nhà thơ mới. Cả bài thơ gồm bốn khổ chỉ có duy nhất hai câu thơ cuối trực tiếp bộc lộ cảm xúc của tác giả, cũng chính vì lẽ này mà hai câu thơ ấy trở thành hai câu thơ quan trọng nhất, làm nhiệm vụ khép lại toàn bộ thi phẩm. Mượn ý thơ Thôi Hiệu thời Đường trong bài Hoàng hạc lâu- hai câu thơ vốn được coi là những câu thơ hay nhất nói về nỗi sầu xa xứ:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Huy Cận đã nói lên nỗi buồn nhớ quê hương của mình qua hình ảnh “không khói hoàng hôn”. Đưa làn khói ấy vào tác phẩm, tác giả không chỉ mang lại cho bài thơ một vẻ đẹp cổ điển mà còn thể hiện được cá tính, sáng tạo riêng của bản thân phù hợp với đặc điểm thời đại. Nếu như nhà thơ xưa nhìn thấy khói sóng trên sông trong lòng trào lên nỗi nhớ quê hương thì với Huy Cận, “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Không giống như Thôi Hiệu, nỗi nhớ được gợi lên từ ngoại cảnh, nỗi nhớ quê hương tha thiết của Huy Cận luôn thường trực trong tâm hồn ông. Tâm trạng ấy được bộc lộ không chỉ qua hình ảnh “khói hoàng hôn” mà còn được bạn đọc cảm nhận qua cách dùng từ độc đáo, sáng tạo của nhà thơ. Từ láy “dợn dợn”, có khi được đọc chệch đi thành “dờn dợn” lại làm câu thơ kém sức gợi cảm, không chỉ diễn tả trạng thái tâm lý choáng ngợp trước không gian mênh mông, rộng lớn cùng nỗi nhớ quê hương như lan tỏa ra khắp cảnh vật hùng vĩ xung quanh mà còn gợi lên hình ảnh những con sóng không ngừng vỗ bờ khi đi cùng với hình ảnh “vời con nước”. Độc giả dường như có thể hình dung ra được cảnh tượng sông nước trước mặt nhà thơ, cũng đồng cảm với nỗi nhớ quê hương da diết dường như đã lan tới cả những con sóng. Nỗi nhớ ấy cũng mênh mang như sông nước tràng giang, sâu nặng, thấm thía. Điều này càng được thể hiện rõ nét hơn qua biện pháp nghệ thuật phủ định để khẳng định, phủ định ngoại cảnh: “không khói hoàng hôn” để làm nổi bật tâm cảnh: “cũng nhớ nhà” của Huy Cận. Chưa có câu thơ nào lại mang đến cho người đọc cảm nhận chân thực và xúc động đến thế về nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương như ở hai câu thơ kết thúc bài thơ này.

Chỉ với bốn khổ thơ, Tràng giang đã khắc họa ra trước mắt bạn đọc một bức tranh thiên nhiên mang màu sắc cổ điển với những nét vẽ hiện đại đầy sáng tạo, ẩn chứa tâm trạng, nỗi buồn, nỗi sầu và cả nỗi nhớ của nhà thơ Huy Cận. Gấp lại trang thơ rồi, chắc chắn bạn đọc vẫn sẽ còn trăn trở mãi về thi phẩm này, cũng có những người có lẽ từ nay trở đi, mỗi lần đi qua sông Hồng đều sẽ vô thức mà nhớ lại Tràng giang, lần nữa cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước trong mình. Chính sự đồng điệu trong tâm hồn này đã góp phần làm nên giá trị to lớn của bài thơ cả về nội dung và nghệ thuật, tạo nên thành công vang dội cho Tràng giang nói riêng và cả tập thơ Lửa thiêng nói chung.

Hải Anh