Phân tích bài thơ Tự Tình II của nhà thơ Hồ Xuân Hương đạt điểm cao

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Tự tình II của nhà thơ Hồ Xuân Hương

Bài làm

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa luôn phải chịu nhiều uất ức, khổ nhục, điều này được phản ánh chân thực nhất qua , đặc biệt là các tác phẩm thời kì trung đại. Là một người phụ nữ, hơn ai hết, Hồ Xuân Hương hiểu rõ thiệt thòi của những kiếp hồng trong xã hội phong kiến đầy những hủ tục, định kiến ấy,  và thể hiện lại rõ nét hoàn cảnh, cuộc đời cũng như tâm trạng của những người phụ nữ thời xưa, đặc biệt qua chùm thơ Tự tình. Tự tình gồm ba bài thơ mà nổi bật nhất trong số đó là Tự tình II- thi phẩm thể hiện một tư tưởng nhân văn sâu sắc đáng trân trọng về người phụ nữ thời bấy giờ, đây cũng được coi là bài thơ đặc sắc nhất trong toàn bộ sự nghiệp thơ của Bà chúa thơ Nôm.

Bài thơ mở ra trước mắt người đọc một không gian rộng lớn trong đêm khuya  thanh vắng với âm thanh duy nhất là tiếng trống canh vang lên dồn dập. Cô đơn, một mình một bóng, nhân vật trữ tình hiện lên là một kẻ đang giải sầu, nhưng càng uống, sầu lại càng dâng. Trong tâm trạng như vậy, thiên nhiên hiện lên trong mắt kẻ say bất ngờ lại tràn đầy sức sống, vùng lên mạnh mẽ. Ấy vậy mà dường như người ta vẫn cảm thấy như có cái gì chán chường, ngán ngẩm vây quanh người và cả cảnh nơi đây, dai dẳng, ám ảnh đến không lối thoát.

Hai câu Đề là của nhà thơ về không gian, và thân phận của người phụ nữ:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn.

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Trời đã về khuya, thật muộn. Trong khoảng thời gian tràn đầy bóng tối vắng lặng ấy, ta dễ có những suy tư, trăn trở. Cái yên tĩnh của màn đêm khiến ta tập trung hơn, dường như cũng làm cho lòng ta trĩu nặng với những nghĩ suy. Từ xa vọng lại tiếng trống canh, dồn dập, liên hồi lại mang theo cả cảm giác mất mát, vừa khiến không gian càng thêm thanh vắng lại đồng thời tác động đến tâm trạng . Cảm nhận được bước đi vội vã, hối hả của thời gian, nhân vật trữ tình càng thêm nặng lòng với nỗi buồn bã và lo âu. Thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, xưa nay vốn đã coi trọng, cũng sợ sệt, dè dặt trước sự trôi nhanh của thời gian, thi nhân lại là những người càng nhạy cảm hơn với bước đi của thời gian. Là một người phụ nữ, vốn đã nhạy cảm hơn nam nhân, lại đồng thời là một thi nhân có tâm hồn giàu nữ tính, Hồ Xuân Hương có ý thức rất sâu, rất đậm về tình yêu và vô cùng nhạy cảm trước những bước đi vội vã ấy. Khung cảnh xung quanh cùng sự hối thúc về thời gian khiến nhà thơ như giật mình nhận ra, tự ý thức về thân phận của mình. Dùng từ “trơ” dường như là một sự tàn nhẫn với bản thân, nhưng đáng buồn thay đây lại là từ chính xác nhất Hồ Xuân Hương dành cho chính mình. Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa chưa bao giờ được coi trọng, thân là một người vợ lẽ, người ta lại càng phải chịu tủi nhục nhiều hơn, giống như nhân vật trữ tình lúc này, bị bỏ rơi, không ai thèm để ý, đếm xỉa đến. có sĩ diện rất cao, người ta sẽ khó lòng chấp nhận việc để người khác nhìn thấy mặt xấu hổ, tủi nhục của mình, thế nhưng Hồ Xuân Hương lại đảo từ “trơ” lên đầu câu, như càng muốn nhấn mạnh vào sự bẽ bàng, tủi hổ của bản thân. Đi liền ngay sau đó, “hồng nhan” tuy để chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ, cũng là ẩn dụ cho người phụ nữ có sắc đẹp, lại được nhà thơ đặt cạnh từ “cái”. Ta dường như có thể nghe được lời nàng tự mỉa mai, chế giễu mình khi khiến cái đẹp của bản thân trở nên rẻ rúm. Trong tiếng cười tự giễu ấy lại ẩn chứa những xót xa, tủi hổ của Hồ Xuân Hương trước thân phận của chính mình. Cái hồng nhan trơ ra với nước non, cô độc, lẻ bóng, chẳng ai đoái hoài tới giữa cuộc đời rộng lớn này, một kiếp phận như thế không khỏi gợi lên cảm giác phũ phàng, cay đắng.

Xem thêm:  Dàn ý đề: "Đời sống có hạn mà sự học thì vô hạn"

Xót xa là thế, cay đắng là thế, nhưng tất thảy những đau buồn đó lại đều là do hai từ “duyên phận” gây nên:

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Có thể dễ dàng đoán được qua hai câu Thực, duyên phận của nhân vật trữ tình đã dang dở, lỡ làng. Khi người ta muốn quên đi những buồn tủi, cô đơn của cuộc đời, vừa hay rượu có thể khiến ta say, khiến ta tạm thời quên đi tất cả. Nhà thơ tìm đến rượu, uống rượu để giải sầu nhưng càng uống lại càng tỉnh, càng tỉnh lại càng thấy cô đơn. Sầu không giải được, ngược lại còn thêm sầu. Cứ say rồi lại tỉnh, mỗi lần tỉnh lại, nàng lại phải đối mặt với đêm khuya cô độc, với sự lạnh lẽo dâng lên trong trái tim. Vòng luẩn quẩn của say- tỉnh được thể hiện trọn vẹn qua từ “lại”, gợi lên cảm giác dường như đêm nào cũng như đêm nào, tháng này qua năm khác, cuộc đời nhà thơ vẫn cứ luôn cô đơn như thế, lặp đi lặp lại trong những cơn say- tỉnh triền miên không dứt. Rượu không giúp nhân vật trữ tình giải được sầu, nàng liền tìm đến trăng. Xưa nay trăng vẫn luôn là người bạn tri kỉ của thi thi nhân, thi sĩ. Dưới ánh trăng, uống rượu, tâm tình vốn là thú vui tao nhã của bậc thi nhân, nhưng trong hoàn cảnh lúc này đây, Hồ Xuân Hương tìm đến trăng là để chia sẻ nỗi u sầu. Trớ trêu thay, vầng trăng trên cao lại lạnh lẽo sắp tàn mà vẫn còn khuyết, cũng giống tuổi xuân đã qua đi mà hạnh phúc của nàng vẫn chưa trọn vẹn. Nỗi u sầu dường như lại tăng lên gấp đôi.

Loading...

Ở một nhà thơ có cá tính mạnh mẽ, táo bạo như Hồ Xuân Hương, sau buồn tủi, u sầu bao giờ cũng là sự phẫn uất, phản kháng của một tâm trạng buồn. Thật ra ở câu Đề thứ hai, cách dùng từ “trơ” đã thể hiện sự thách thức của nhà thơ với cuộc đời, với số phận thiệt thòi của người phụ nữ, đây cũng chính là bản lĩnh của Hồ Xuân Hương. Bản lĩnh ấy một lần nữa được thể hiện, rõ nét và mạnh mẽ hơn ở hai câu thơ Luận miêu thiên nhiên nhưng thực chất là để bộc lộ sự phẫn uất, phản kháng dữ dội của nàng:

Xem thêm:  Bài 31 - Ôn tập phần Tập làm văn

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Là loài thực vật nhỏ bé, hèn mọn, thường bị người ta coi thường nhưng rêu xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương lại mọc “xiên ngang”, không chịu mềm yếu, bị người ta dẫm đạp. Đá vốn dĩ đã rắn, nay lại càng rắn hơn, “đâm toạc” cả chân mây tưởng như chẳng thể chạm đến. Sự phẫn uất của cây cỏ, đất đá được nhấn mạnh nhờ biện pháp tu từ đảo ngữ đã gián tiếp thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Những động từ mạnh: “xiên”, “đâm” kết hợp với những từ: “ngang”, “toạc” đã gợi cho người đọc cảm nhận được sự bướng bỉnh, ngang ngạnh trong hai câu thơ mang đầy ý phản kháng. Rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây như vạch đất vạch trời mà uất hận, mà hờn oán. Từ cách miêu tả những sự vật theo hướng đi ngược lại với tự nhiên, nhà thơ như muốn phá vỡ những quy luật đã có từ lâu, phá vỡ những định kiến, giáo điều áp đặt lên người phụ nữ trong xã hội phong kiến, khiến thân phận họ trở nên rẻ rúm, phải phụ thuộc vào người khác. Dám nói lên những nỗi khổ nhục, buồn tủi của người phụ nữ, lại thể hiện sự phản kháng đầy mạnh mẽ đối với hoàn cảnh của bản thân, Hồ Xuân Hương đã cho ta thấy cá tính con người nàng, đó là con người đầy bản lĩnh, không chịu chấp nhận số phận, dám thách thức số phận.

Phân tích bài thơ Tự Tình II của nhà thơ Hồ Xuân Hương đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Tự tình

Bản lĩnh là thế, mạnh mẽ là thế nhưng sống trong một xã hội mà người phụ nữ bị trói buộc trong những lễ giáo phong kiến cả ngàn đời, cuộc đời Hồ Xuân Hương vẫn không thể thoát khỏi bi kịch. Không cam chịu, khuất phục, luôn tìm cách phản kháng lại số phận nhưng cuối cùng, nàng vẫn phải chịu thua cuộc, để mặc cho dòng đời xô đẩy số phận mình:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

Trước sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ không thể ngăn lại nỗi buồn đang dâng lên trong mình. Nàng ngán ngẩm, chán ngán trước cuộc đời, số phận bản thân, cái thân phận bị người ta coi thường, không thèm đoái hoài tới. Sự mệt mỏi, rã rời của nhân vật trữ tình được đẩy lên đến đỉnh điểm khi nhà thơ dùng biện pháp tu từ đảo ngữ, đảo từ “ngán” lên đầu câu thơ, như muốn nhấn mạnh vào tâm trạng của bản thân trước duyên phận bẽ bàng, trớ trêu. Nhắc tới “xuân”, người ta những tưởng số phận nhân vật trữ tình sẽ có thay đổi, khởi sắc, thế nhưng rồi ta mới vỡ lẽ, sự xuất hiện của mùa xuân ấy chỉ khiến cuộc đời nàng thêm buồn tủi. Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, nhưng mùa xuân thì tuần hoàn còn tuổi xuân một khi đã qua thì sẽ không bao giờ trở lại. Mùa xuân cứ tuần hoàn, từ năm này sang năm khác, “xuân lại lại” nhưng mùa xuân trở lại cũng đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân- quãng đời đẹp nhất của người phụ nữ. Lặp hai lần từ “xuân” với mỗi lần xuất hiện là một lớp nghĩa khác nhau cùng với việc sử dùng cặp từ “đi”-“lại”, sự ám ảnh triền miên cũng như nỗi tủi nhục của nhân vật cứ luôn trở đi trở lại, như một vòng vây không lối thoát khóa chặt cuộc đời nàng. Mỗi lần xuân về, nỗi buồn lại càng thêm xót xa. Tưởng như không còn gì có thể khiến Hồ Xuân Hương buồn thêm, thế nhưng nỗi buồn dường như là vô tận ấy lại càng lớn hơn khi nàng nhận thức được nghịch cảnh của bản thân. Tuổi xuân đã sắp tàn mà vẫn “trơ cái hồng nhan với nước non”, tình cảm của nàng thì nhiều mà tình cảm nàng nhận được lại chẳng được bao nhiêu, “mảnh tình” đã nhỏ lại bị “san sẻ”, chỉ còn lại “tí con con” nên càng xót xa, tội nghiệp. Từ láy “con con” thêm lần nữa nhấn mạnh vào chút tình ít ỏi mà nhân vật trữ tình nhận được, càng khoét sâu thêm nỗi đau đớn, buồn tủi của thân phận người phụ nữ phải chịu cảnh chung chồng trong xã hội xưa. Cách ngắt nhịp 2/2/1/2 như một tiếng thở dài buông xuôi, chán nản trước nỗ lực phản kháng lại xã hội nhưng cuối cùng vẫn đành chịu thua của Hồ Xuân Hương. Hai câu Kết được viết ra từ tâm trạng của một con người đã gặp nhiều trắc trở, éo le trong tình duyên: hai lần làm lẽ và cả hai lần đều phải ở góa, hai câu thơ đã nói lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Khi người ta càng khát khao hạnh phúc thì lại càng thất vọng bởi với họ, hạnh phúc là một chiếc chăn quá nhỏ, cho dù có mà cam chịu hay phản kháng lại như Hồ Xuân Hương thì cuối cùng, cái kết mà họ nhận được vẫn chỉ là sự buồn tủi, cô đơn của một kiếp hồng nhan trong những giáo điều của xã hội xưa lạc hậu, cổ hủ.

Xem thêm:  Bài 22 - Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

Sử dụng thành công các biện pháp tu từ đặc sắc, bài thơ Tự tình dù được viết theo thể thơ Đường luật cổ điển nhưng ngôn ngữ vẫn thật bình dân, giản dị, giàu hình ảnh, thể hiện trọn vẹn khát vọng hạnh phúc và quyết tâm vượt lên số phận đầy bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Bài thơ đã nói lên tiếng lòng của Hồ Xuân Hương, thể hiện cái tôi cá nhân mạnh mẽ, đầy ý thức về , tình yêu và hạnh phúc của nàng, đáng tiếc, tất cả phản kháng ấy đều chỉ có thể mượn thơ để bộc lộ:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.

Hải Anh