Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

Bài làm

Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là vị lãnh tụ vĩ đại nhất trong lòng mỗi người dân Việt Nam, bởi vậy mà tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là các tác phẩm văn học ca ngợi, thể hiện tình cảm với Người cũng vô cùng nhiều. Được biết đến là một trong những bài thơ hay nhất viết về tình cảm nhân dân dành cho Bác Hồ, “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương đã thể hiện được tấm lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc dành cho Bác của tác giả nói riêng và tất cả mọi người nói chung khi vào lăng viếng Người. Có thể khẳng định, đây là một tác phẩm không thể bỏ qua trong kho tàng văn học hiện đại nước nhà.

Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm lăng Bác, vào lăng viếng Bác Hồ. Thi phẩm “Viếng lăng Bác” đã được ông đặt bút viết trong nước mắt khi phải rời xa lăng Bác để trở về miền Nam quê ông. Xuyên suốt tác phẩm là mạch cảm xúc của nhà thơ trong chuyến đến thăm Bác của mình. Từ khi mới chỉ đứng bên ngoài lăng, trong lòng Viễn Phương đã tràn đầy sự xúc động.

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

Theo lẽ thường, người ta khi gọi “bác” thì sẽ phải xưng là “cháu”, thế nhưng Viễn Phương dường như đã làm điều ngược lại. Từ ngữ xưng hô “con” đối với “Bác” như một cách để tác giả thể hiện sự kính trọng, yêu mến của mình đối với vị lãng tụ vĩ đại. Đối với ông, Bác như người ruột thịt trong gia đình, vô cùng thân thiết, gần gũi, là người cha già kính yêu của cả dân tộc Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở đó, tình cảm của nhà thơ còn được thể hiện qua cách ông dùng từ “thăm” như một biện pháp nói giảm nói tránh. Đối với Viễn Phương cũng như tất cả mọi người dân, đặc biệt là nhân dân miền Nam, Bác luôn sống mãi trong trái tim mỗi người, luôn là tấm gương sáng cho cuộc sống học tập, rèn luyện, lao động của nhân dân. Dù có hình thức như một lời thông báo nhưng với tâm trạng từ miền Nam ra thăm lăng Bác sau những năm tháng chiến tranh ác liệt của nhà thơ, đây lại là một lời thông báo ẩn chứa những cảm xúc khó diễn tả thành lời. Trong cái nhìn đầu tiên của Viễn Phương về nơi người cha già vĩ đại đang yên nghỉ, hàng tre ẩn hiện trong màn sương sớm là hình ảnh có sức biểu cảm nhất đối với ông. Hàng tre xanh “bát ngát” trải dài tưởng chừng như vô tận, tràn đầy sức sống đã đứng đó từ rất lâu như để chờ người con miền Nam ra thăm lăng Bác. Nếu như “hàng tre” trong câu thơ thứ hai là hàng tre thực- một hình ảnh rất đỗi quen thuộc của làng quê Việt Nam thì “hàng tre” ở câu thơ thứ ba và cả thứ tư này lại là hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa biểu tượng cho đất nước và con người Việt Nam kiên trung, bất khuất. Hàng tre thẳng tắp luôn kề sát bên nhau như những người con dân của đất nước luôn đoàn kết, nâng cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc. Thán từ “Ôi” kết hợp cùng với dấu chấm cảm càng làm tăng thêm sự xúc động cũng như tự hào của nhà thơ về ấn tượng bên ngoài lăng Bác.

Tiến gần thêm một chút, nhà thơ giờ đây đã đứng bên thềm lăng với những cảm xúc nhớ thương khôn xiết. Như một sự bắt đầu chính thức, hình ảnh mặt trời xuất hiện ngay từ câu thơ đầu tiên của khổ thơ với những ý nghĩa ẩn dụ lớn lao:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Từ thực tế, mặt trời của tự nhiên là hành tinh đem lại ánh sáng và sự sống cho trái đất, xua đi bóng đêm, bởi vậy, không còn mặt trời nữa cũng đồng nghĩa với việc sự sống của toàn nhân loại và vạn vật sẽ chấm dứt. Với biện pháp tu từ nhân hóa qua từ “đi” và “thấy”, mặt trời từ một hành tinh xa xôi cách trái đất cả triệu năm ánh sáng giờ trở nên thật gần gũi và sinh động với bạn đọc. Cũng chính từ hình ảnh thực đó mà Viễn Phương đã tạo nên hình ảnh ẩn dụ “mặt trời” có nét tương đồng với mặt trời của tự nhiên. “Mặt trời” ẩn dụ ấy chẳng phải ai xa lạ mà chính là Bác Hồ- Người đã đem lại ánh sáng của độc lập, tự do, hạnh phúc, xua tan bóng đêm của kiếp sống lầm than như mặt trời thực đem lại ánh sáng cho muôn loài. Được miêu tả qua từ “tỏa”, ta không chỉ đơn thuần hình dung được ánh sáng của mặt trời tự nhiên mà qua đó, độc giả còn cảm nhận được ánh sáng của Cách mạng- Bác là mặt trời chân lí Cách mạng. Đối với nhà thơ và cả mọi người dân trên đất nước Việt Nam, “mặt trời Bác” ấm áp, gần gũi, yêu thương luôn ở trong trái tim chúng ta, đưa ta đến với một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có được cuộc sống hòa bình, tự do ngày hôm nay, tất cả đều là nhờ có công lao vĩ đại như trời bể của Bác, Bác đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc, cho đất nước Việt Nam- một kỉ nguyên của hòa bình và độc lập. Biết được điều đó, như mọi người con của dải đất hình chữ “S” thân yêu, Viễn Phương đã thể hiện tình cảm của ông cũng như của nhân dân Việt Nam dành cho Bác qua hai câu thơ kết thúc khổ thơ:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…

Nỗi nhớ thương- theo lẽ tự nhiên- là ở trong lòng mỗi người, vậy mà tác giả lại viết “dòng người đi trong thương nhớ”, vì sao vậy? Có lẽ vì, cũng giống như Viễn Phương, tất cả những trái tim trong dòng người vào lăng viếng Bác đều đang hòa chung nhịp đập trong niềm tiếc thương vô hạn đối với vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc, tình cảm thiêng liêng ấy như bao trùm cả không gian, vạn vật. Để viết nên được câu thơ giàu cảm xúc như vậy, nhà thơ không chỉ cảm nhận bằng thị giác mà còn bằng cả trái tim yêu nhớ Bác. Mỗi ngày, có hàng trăm ngàn người từ khắp mọi nơi trên đất nước đổ về Thủ đô Hà Nội để viếng thăm lăng Bác, dòng người vào lăng viếng ấy nhưng tràng hoa dâng lên những công lao to lớn  và vĩ đại của Bác. Thông thường, để viếng người đã khuất, người ta thường dùng vòng hoa, nhưng ở đây nhà thơ lại dùng “tràng hoa” bởi ông muốn tránh đi cảm giác đau buồn trước sự thật: Bác đã không còn nữa. Hơn nữa, “tràng hoa” còn là để mỗi người con dân Việt Nam dâng lên Bác bởi cả cuộc đời của Bác là bảy mươi chín mùa xuân Người cống hiến trọn vẹn cho nhân dân, đất nước. Tất cả chúng ta, cũng như Viễn Phương, với lòng tự hào, biết ơn và nhớ thương khôn nguôi, sẽ chẳng bao giờ quên những công lao to lớn của Người, nhờ đó mà ta mới có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc và độc lập như ngày hôm nay. Điệp ngữ “ngày ngày” được lặp lại hai lần trong khổ thơ cùng với dấu chấm lửng kết thúc như một lời khẳng định: Nỗi nhớ thương Người của mỗi người dân Việt Nam sẽ không bao giờ đổi thay bởi Người luôn sống mãi cùng quê hương, đất nước.

Loading...

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

Vào đến trong lăng, tình yêu của nhà thơ đối với Bác càng được thể hiện rõ nét hơn. Lần thứ hai trong bài thơ ông sử dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh, lần này là qua cụm từ “giấc ngủ bình yên” trong câu thơ:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Gác lại mọi lo toan bộn bề của chiến tranh, của đất nước, Bác thanh thản, bình yên trong giấc ngủ như vừa bắt đầu chợp mắt. Bác chỉ ngủ một giấc dài, chỉ nghỉ ngơi thôi sau cả một cuộc đời là những đêm không ngủ:

Một canh, hai canh, lại ba canh

Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh

Cả không gian và thời gian như ngưng kết và lắng đọng lại trong cảm xúc của nhà thơ! Bác đang ngủ một giấc ngủ bình yên:

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Trăng là người bạn tri kỷ của Bác, là nhân vật đặc biệt xuất hiện trong rất nhiều bài thơ của Người, trăng luôn giúp Người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong cuộc đời. Tình yêu thiên nhiên tha thiết, phong thái ung dung, lạc quan, tự tại của Người cũng chính là được tạo nên từ mối giao hòa trọn vẹn giữa trăng và Người. Lúc sinh thời, trăng là người bạn tri kỉ gắn bó với Bác, nay, khi Bác đã nằm trong giấc ngủ bình yên thì trăng vẫn ở bên canh giấc ngủ cho Người. Hay, phải chăng, trăng còn là biểu tượng cho tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Bác? Là một sự thật hiển nhiên, trời xanh cũng giống như mặt trời hay vầng trăng, là hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, vĩnh hằng. Cũng như “trời xanh”, Bác luôn sống cùng hồn thiêng sông núi, Người là bất tử, Người sống mãi trong tim mỗi người dân Việt Nam:

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!

Phải, Bác ngủ trong lăng, ngủ một giấc bình yên, chỉ có điều, giấc ngủ ấy kéo dài cả nghìn thu, vậy nên, trái tim thì nói rằng Bác vẫn luôn sống mãi nhưng thực tế, lí trí lại vạch ra thực tại không thể thay đổi: Bác đã đi xa. Cùng một lúc, trong Viễn Phương hiện lên hai trạng thái của Bác với hai cảm xúc hoàn toàn khác nhau, nhưng rồi, buộc phải chấp nhận sự thật phũ phàng, nhà thơ thấy “nhói ở trong tim”. Sử dụng câu cảm thán cùng từ ngữ bộc lộ cảm xúc trực tiếp “nhói”, ông như muốn thể hiện sự đau đớn đến tột cùng của mình khi buộc phải chấp nhận hiện thực. Nỗi đau trong Viễn Phương âm ỉ, đeo đẳng ông khiến nhà thơ không khỏi đau xót, tiếc thương vị cha già kính yêu của cả dân tộc.

Tiếc rằng thời gian ngắn ngủi, cuối cùng cũng đến lúc nhà thơ phải rời đi. Khổ thơ cuối chính là cảnh chia ly đầy nước mắt của ông nói riêng và của tất cả mọi người dân miền Nam nói chung.

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Dù không nhắc tới một khoảng thời gian cụ thể nhưng cụm từ “mai về” lại giúp độc giả có thể hình dung được thời khắc chia xa đã đến gần. Không muốn nhưng cũng không thể làm khác được, Viễn Phương đành phải tạm rời xa vị lãnh tụ vĩ đại và hẹn gặp lại Người vào một ngày không xa. Cảm xúc được bộc lộ trực tiếp qua từ “thương” cùng với những dòng nước mắt cứ tuôn trào mà không thể dừng lại là minh chứng rõ nhất cho tình yêu mà nhà thơ cũng như mỗi người dân Việt Nam dành cho người cha già kính yêu. Không thể kìm nén trong lòng, cảm xúc của tác giả khi phải rời xa Bác không chỉ là hàng nước mắt tuôn trào mà còn là những ước nguyện bình dị mà cao đẹp của ông. Viễn Phương

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

để được mãi gần gũi bên Bác mà không phải lo tới giây phút chia ly như lúc này đây. Những điều ông ước tuy bình dị nhưng lại là những hình ảnh tươi đẹp nhất của thiên nhiên, mang đến sự tươi vui với tiếng chim hót líu lo quanh lăng suốt đêm ngày, sự an nhàn tận hưởng hương hoa thơm ngát nơi quảng trường Ba Đình lịch sử cho vị cha già vĩ đại yên nghỉ nơi chốn này. Tất cả những ước nguyện đó thật cao đẹp biết bao! Nhưng sẽ thật là thiếu sót nếu ta không nhắc tới ước nguyện trong câu thơ cuối kết thúc bài thơ và có lẽ cũng là kết thúc chuyến viếng thăm lăng Bác của Viễn Phương:

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Từ bao đời nay, tre đã gắn bó với dân tộc ta suốt hơn bốn nghìn năm, cây tre không chỉ là người bạn thân thiết của nhân dân ta mà nó còn đại diện cho người Việt Nam trung với nước- hiếu với dân. Cây tre mang đức tính của người hiền, cũng là ước nguyện hóa thân của không chỉ riêng tác giả mà còn của mọi người con đất Việt ta. Được lặp lại tới ba lần, điệp ngữ “muốn làm” mở đầu ba câu thơ cuối cùng trong khổ thơ kết đã tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn đọc khi nó đã thể hiện và nhấn mạnh vào sự chân thành, tha thiết và mãnh liệt trong những ước muốn của tác giả. Bác là vị cha già kính yêu của toàn dân tộc Việt Nam, nhưng có lẽ, giữa Bác và miền Nam luôn có một sợi dây tình cảm vô hình nào đó, thực sự bền chặt và thắm thiết, cũng chính bởi vậy mà một nhà thơ- giống với tình cảm trong thơ Viễn Phương, đã viết:

Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha.

Dường như, với tình yêu thương ấy, những ước nguyện của Viễn Phương vào giây phút chia xa lại càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Khép lại khổ thơ và cũng là cả bài thơ, ta không chỉ đồng cảm với cảm xúc lưu luyến, không muốn rời xa Bác của Viễn Phương mà còn thêm yêu, thêm trân trọng Người— vị cha già kính yêu của dân tộc hơn nữa.

Có vô số tác phẩm viết về Bác và tình yêu nhân dân dành cho Bác, thế nhưng trong số đó, “Viếng lăng Bác” vẫn luôn là tác phẩm xuất sắc nhất của một người con miền Nam luôn hướng trái tim mình về Thủ đô Hà Nội nơi có Bác Hồ kính yêu. Bên cạnh tình cảm mãnh liệt, nồng nàn bao trùm cả bài thơ, thành công của thi phẩm này còn có sự đóng góp không hề nhỏ của hệ thống các hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, độc đáo xuyên suốt cả tác phẩm. Thật là một bài thơ đáng đọc và khó quên!

Hải Anh