Phân tích bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu đạt điểm cao

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của nhà thơ

Bài làm

Là một trong những nhà thơ nổi bật nhất của nền Việt Nam , trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ, cho đến hiện nay Tố Hữu đã để lại cho kho tàng dân tộc những tác phẩm có giá trị. Nếu là thi phẩm đưa Tố Hữu đến với Cách mạng thì Việt Bắc chính là bài thơ đánh dấu sự kết thúc của cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài chín năm lịch sử. Viết về cuộc chia tay giữa những cán bộ kháng chiến miền xuôi với nhân dân miền ngược, bài thơ không chỉ tràn ngập cảm xúc mà còn giàu tính dân tộc, nêu cao đạo lý Uống nước nhớ nguồn truyền thống.

Việt Bắc là căn cứ địa của Cách mạng từ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, sau lịch sử Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải kí hiệp định Giơ-ne-vơ, rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam, những cán bộ kháng chiến đã gắn bó với nhân dân Tây Bắc suốt cuộc kháng chiến ở nơi căn cứ địa của Cách mạng cũng phải từ giã núi rừng để trở về với Thủ đô, bắt đầu công cuộc xây dựng đất nước. Trong không khí chia ly đầy xúc động và lưu luyến ấy, Tố Hữu đã viết nên bài thơ Việt Bắc với tất cả những cảm xúc chân thành nhất. Bài thơ có hình thức là lời đối đáp giữa cán bộ kháng chiến với người dân Việt Bắc nhưng thực chất lại chính là lời độc thoại độc tâm của người ra đi nhằm khẳng định tình cảm, sự thủy chung, tình nghĩa đối với người ở lại, đồng thời khẳng định sự gắn bó, thân thiết không gì có thể chia cách giữa người ra đi và người ở lại.

Tám câu thơ mở đầu, cảnh chia tay giữa những cán bộ kháng chiến trở về Thủ đô với nhân dân Việt Bắc hiện lên đầy cảm xúc. Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, cuộc chia ly này tuy xúc động mà không khiến người ta buồn rầu, sướt mướt bởi đây là cuộc chia ly lớn lao mang ý nghĩa lịch sử, chia ly mà vẫn tin tưởng vào ngày gặp lại. Trong cảnh chia ly giữa núi rừng mênh mông những kỉ niệm ấy, nhà thơ đã để cho người ở lại lên tiếng, bộc bạch nỗi lòng trước:

– Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Trong tiếng Việt, từ “mình” ngoài việc được sử dụng theo ngôi thứ nhất, nó còn được dùng như ngôi thứ hai để gọi người có mối quan hệ gần gũi, gắn bó thân thiết với chủ thể. Để người ở lại và người ra đi xưng hô “mình”- “ta”, tác giả đã gián tiếp khẳng định tình cảm khăng khít, gắn bó son sắt giữa cán bộ kháng chiến và người dân Việt Bắc. Khổ thơ ẩn chứa một nỗi nhớ mênh mang khi Tố Hữu lặp lại hai lần từ “nhớ” để nhấn mạnh vào trạng thái cảm xúc của người ở lại. Nhớ tới những kỉ niệm đã từng có với cán bộ kháng chiến, với Cách mạng, nhân dân Việt Bắc lại nhớ tới những người sắp phải ra đi. Nỗi nhớ ấy không chỉ trải dài theo thời gian “mười lăm năm” đằng đẵng của cuộc kháng chiến mà còn mở rộng trong không gian mênh mang, bát ngát của núi rừng. Câu thơ như đặt ra một câu hỏi khắc khoải vang vọng trong lòng người ra đi: Liệu khi đã trở về với đồng bằng rồi, nhìn cây, nhìn sông, những người cán bộ năm ấy có còn nhớ tới nhân dân Việt Bắc đã từng gắn bó với mình, có còn nhớ tới núi rừng, nguồn cội nơi Tây Bắc hoang sơ, hùng vĩ? Đặt ra câu hỏi về sự thủy chung của những người ra đi với tất cả nỗi nhớ và sự tin tưởng của mình, những người ở lại đã nhận được câu trả lời thích đáng:

– Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Những cán bộ kháng chiến ấy, không phụ lòng nhân dân Việt Bắc, vẫn luôn nhớ tới người ở lại ngay cả khi chưa trở về Thủ đô. Buổi chia ly mang đến cho không chỉ những cán bộ phải trở về mà cả nhân dân Việt Bắc sự “bâng khuâng”, “bồn chồn”, lưu luyến không muốn rời. Hiện lên giữa không gian núi rừng rộng lớn, màu áo chàm đặc trưng, quen thuộc của người dân Việt Bắc đã để lại trong lòng những cán bộ kháng chiến ấn tượng cuối cùng khó quên. Đó là màu áo giản dị, mộc mạc mà thân thương, gần gũi, gợi nhắc đến những ngày cả hai còn gắn bó như những người ruột thịt. Giây phút chia ly đã đến, cả kẻ ở lẫn người đi đều nghẹn ngào không nói nên lời, chỉ có cái nắm tay thủy chung, tình nghĩa là có thể thay lời cả hai, truyền cho nhau tình cảm, những lời hứa và hơi ấm thân thương. Cảnh chia tay giữa những cán bộ kháng chiến với người dân Việt Bắc buồn nhưng không sướt mướt, đó là một cảnh chia ly cảm động, gợi lên trong lòng bạn đọc những về sự thủy chung của người ra đi, về một cuộc hội ngộ không xa.

Xem thêm:  Hãy trình bày những cảm nhận của mình về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong chương “Đất nước” (trích trường ca "Mặt đường khát vọng")

Nỗi nhớ của người ở lại trải dài theo những kỉ niệm đã cùng có với người ra đi. Đó là cuộc sống sinh hoạt thường ngày với cái đói “miếng cơm chấm muối”, “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa”; cái rét “chăn sui đắp cùng”; những ngày sáng lao động “bẻ từng bắp ngô”, tối lại học “lớp họ i tờ”, “đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”; những địa danh “ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê”. Nhớ “mối thù nặng vai” với kẻ địch đã cướp đi sự bình yên của đất nước, nhớ những ngày tháng hoạt động Cách mạng, “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”, nhớ những địa danh gắn liền với Cách mạng: “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”. Kỉ niệm suốt mười lăm năm khó lòng mà kể hết trong giờ phút chia ly cận kề, người dân Việt Bắc chỉ còn biết gửi gắm tình cảm của mình qua từng câu thơ giàu hình ảnh, cảm xúc. Trong tình cảm có nỗi nhớ, trong nỗi nhớ lại có sự lo âu, không biết liệu những cán bộ kháng chiến khi trở về Thủ đô rồi có còn nhớ tới nơi núi rừng hiểm trở với cuộc sống khó khăn đã từng trải qua cùng người dân Việt Bắc nữa hay không.

Phân tích bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Việt Bắc

Đáp lại những nghĩ suy, trăn trở ấy của người ở lại, người ra đi đã khẳng định tình cảm, sự thủy chung của mình “sau trước mặn mà đinh ninh”, không gì có thể lay chuyển, chia cách được. Câu thơ “ta với mình, mình với ta” sử dụng cấu trúc lặp vòng, cùng quan hệ từ “với” đã nhấn mạnh vào sự gắn bó, tưởng hai mà một của những cán bộ kháng chiến miền xuôi với nhân dân Việt Bắc. Với sự gắn bó, thân thiết ấy, người ra đi không những không thể quên được người ở lại mà khi đã trở về Thủ đô rồi, người ra đi vẫn còn nhớ tới cuộc sống, những kỉ niệm khó quên với người ở lại. Những ngày tháng cùng kề vai sát cánh bên nhau chiến đấu với quân thù, “Nhớ khi giặc đến giặc lùng- Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây” đã góp phần làm nên chiến thắng cho cuộc chiến chống Thực dân Pháp của dân tộc. Nỗi nhớ người dân Việt Bắc của những người cán bộ kháng chiến còn được bộc lộ qua nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc. Đặt câu hỏi ở ngay câu thơ đầu tiên nhưng lại không cần trả lời, người ra đi chỉ muốn bộc lộ cảm xúc, nỗi bồi hồi, xao xuyến khi nhớ lại thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp như bức tranh tứ bình của vùng núi cao hùng vĩ.

Ta về mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

Loading...

“Hoa” là biểu tượng cho thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp. Hòa vào thiên nhiên tươi đẹp ấy là “người”, Việt Bắc nghĩa tình, thủy chung. “Hoa” gắn với “người”, “người” quyện vào “hoa” tạo nên vẻ đẹp hài hòa của bức tranh Việt Bắc. Tám câu thơ có một cấu tứ đặc biệt, cứ một câu sáu chữ nói về thiên nhiên đan xen một câu tám chữ nói về . Mỗi cặp lúc bát làm thành một bức tranh để tám câu thơ vẽ nên một bộ tranh tứ bình bốn mùa: Xuân- Hạ- Thu- Đông tràn ngập màu sắc, âm thanh, ánh sáng. Xuất hiện đầu tiên trong bộ tranh là bức tranh thiên nhiên Việt Bắc mùa đông:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Với gam màu xanh trầm tĩnh của núi rừng đại ngàn làm phông nền, những bông hoa chuối đỏ tươi nở bùng như những bó đuốc thắp lên sáng rực làm ấm cả khu rừng, xua tan đi cái lạnh giá mùa đông, làm ấm cả lòng người và tình cảm nơi đây. Màu hoa chuối đỏ tươi được ánh nắng vàng tô điểm khiến cảnh rừng càng trở nên tươi sáng, thơ mộng. Con người hiện lên trên nền khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt ấy với “dao gài thắt lưng” chính là hình ảnh người dân Việt Bắc trong lao động sản xuất , vững chãi làm chủ núi rừng. Ánh mặt trời chiếu vào lưỡi dao làm lưỡi dao lóe sáng như tỏa ra ánh hào quang bao bọc lấy con người. Từ màu xanh thẳm của núi rừng chuyển sang màu trắng tinh khiết của hoa mơ:

Xem thêm:  Trong một bức thư gửi các cháu thiếu niên nhi đồng. Bác Hồ viết: "Ai yêu các nhi đồng Bằng Bác Hồ Chí Minh".Dựa vào những hiểu biết của mình về cuộc đời Bác và thơ văn của Người, em hãy làm sáng tỏ ý thơ trên

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

bức tranh đã chuyển từ cảnh mùa đông sang mùa xuân. Với cách dùng từ “trắng rừng”, không gian mở ra trước mắt bạn đọc mênh mông, trắng xóa sắc hoa mơ, gợi nên nỗi bâng khuâng, xao xuyến trong lòng người ra đi. Giữa bức tranh thiên nhiên mùa xuân thơ mộng tràn ngập sắc trắng đặc trưng của Việt Bắc, hình ảnh con người lao động hiện lên với tất cả sự tỉ mỉ, cẩn trọng, tài hoa của một người nghệ nhân. Chỉ là công việc đan nón hàng ngày người dân vẫn làm nhưng dưới cái nhìn chất đầy nỗi nhớ của nhà thơ, dường như bao yêu thương đều được người dân Việt Bắc gửi gắm, chau chuốt trong từng sợi giang đan nón để tặng cho những bộ đội, dân công trên đường ra chiến dịch. Nếu cảnh mùa đông, mùa xuân chỉ có màu sắc, ánh sáng thì ở cảnh mùa hè, những âm thanh đầu tiên đã vang lên, đó là tiếng ve đặc trưng báo hiệu mùa hè đến:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Có cô em gái hái măng một mình

Ngay giây phút tiếng ve vang lên, người ta biết mùa hè đã đến, rừng phách nhất loạt trổ hoa vàng. Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh thì sang đến mùa hè, như chỉ chờ hiệu lệnh- tiếng ve vang lên, những nụ phách đồng loạt nở ra thành những bông hoa nhuộm vàng cả cánh rừng rộng lớn. Tài hoa của Tổ Hữu nằm gọn chỉ trong một chữ “đổ”. Bạn đọc vừa được sự chuyển màu mau lẹ đến kì diệu đến rừng phách, vừa như được tận mắt ngắm nhìn trận mưa hoa vàng rừng phách mỗi khi có gió thổi qua. Người con gái vùng sơn cước hiện lên giữa khung cảnh thiên nhiên ấy đã làm dịu đi cái nắng chói chang của mùa hè. Động tác hái măng gợi dáng vẻ cặm cụi, cần mẫn khiến cô gái đã cô đơn, một mình lại càng trở nên nhỏ bé giữa núi rừng rộng lớn. Cảnh mùa hè rực rỡ là thế mà lại đem đến cho người ta cảm giác đượm buồn. Một vẻ đẹp tĩnh lặng và trong sáng! Khép lại bức tranh tứ bình, cảnh mùa thu hiện lên là cảnh ở hiện tại:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Mùa thu hòa bình đầu tiên được mô tả với cảnh đêm trăng- cảnh phù hợp với những khúc hát giao duyên khi chia tay, giã bạn. Ánh trăng thơ mộng đẹp nhất vào mùa thu rọi qua kẽ lá, chiếu xuống mặt đất dệt nên một tấm thảm hoa- trăng kì ảo. Đọc tới đây, ta không khỏi nhớ đến đôi câu thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong bài thơ Cảnh khuya của Người:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Con người trong bức tranh thiên nhiên mùa thu tràn ngập ánh trăng ấy mang theo nỗi nhớ và cả sự thủy chung, tình nghĩa. Sử dụng đại từ phiếm chỉ “ai” để chỉ chung tất cả người dân Việt Bắc không phân biệt người đi rừng, người đan nón hay người hái măng, nhà thơ đã khiến cho bức tranh tứ bình nhòa đi đầy ám ảnh bởi những cảm xúc dâng trào khó ngăn lại được. Đó là nỗi nhớ da diết, thấm thía của người ra đi hướng tới người ở lại, là sự thủy chung, nghĩa tình, không quên đi những gì đã qua. Tiếng hát “ân tình thủy chung” ấy, có thể là của người ra đi, cũng có thể là của người ở lại, tiếng hát ấy đã hát lên khúc hát thấm nhuần đạo lý truyền thống của dân tộc: Uống nước nhớ nguồn. Mỗi bức tranh mang một vẻ đẹp riêng kết hợp lại tạo nên vẻ đẹp chung tràn đầy màu sắc, âm thanh, ánh sáng của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Qua bộ tranh tứ bình ấy, những tâm tư, tình cảm, nỗi nhớ của người ra đi đối với người ở lại đều được bộc lộ trọn vẹn, thi vị, lãng mạn.

Cảm xúc chủ đạo bao trùm toàn bộ bài thơ là nỗi nhớ, nhà thơ nhớ những lúc cùng người dân hành quân, cùng làm Cách mạng, từ đó phản ánh sức mạnh và niềm tin của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Hai chữ “của ta” vang lên dõng dạc, tự hào, thể hiện ý thức làm chủ và niềm vui của những con người được sống giữa núi rừng tự do, có nhân dân Việt Bắc giúp đỡ, đồng hành trong những công việc vất vả góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc. Bất kể thời gian “đêm đêm” có kéo dài đằng đẵng từ đêm này sang đêm khác, bất kể những khó khăn, vất vả, đoàn quân vẫn khí thế, sôi nổi, “rầm rập” hành quân như long trời lở đất, thể hiện ý chí quyết tâm đánh đuổi quân thù, giành lại hòa bình, độc lập cho dân tộc.

Xem thêm:  Bài 15 - Bài kiểm tra tổng hợp cuối học kì I

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Sử dụng khéo léo các từ láy “điệp điệp”, “trùng trùng” giàu giá trị tạo hình, Tố Hữu đã khắc họa nên đoàn quân dường như là trải dài vô tận, vô tận về số lượng, về cả sức mạnh, ý chí và lòng dũng cảm. Câu thơ cũng nhờ những từ láy này mà như âm hưởng ngân vang hào hùng giữa núi rừng kì vĩ. Trong đêm, các ngả đường Việt Bắc ngời sáng “ánh sao đầu súng”, ánh sáng của lí tưởng Cách mạng, tầm vóc của người chiến sĩ như vươn đến tận sao trời. Những điều tưởng chừng như lớn lao, vĩ đại ấy nhờ hai chữ “bạn cùng” lại trở nên vô cùng giản dị, gần gũi với người lính Cách mạng. Những người chiến sĩ ấy không cô đơn một mình, họ còn có những người dân Việt Bắc với trái tim luôn hướng về Cách mạng đêm đêm tiếp lương tải đạn ra chiến trường với khí thế rộn ràng, sôi nổi, lửa đuốc sáng rực cả trời đêm:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Với nghệ thuật đảo cú pháp, không cần phải dùng những từ như: “điệp điệp”, “trùng trùng” mà nhà thơ vẫn gợi lên được sự trùng điệp của những đoàn dân công mang sức mạnh phi thường. Phải là sức mạnh tinh thần thì mới có thể khiến “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”, đó hẳn phải là quyết tâm vượt khó để góp phần vào công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Con đường ra trận đẹp như đêm hội hoa đăng. Từ tất cả sức mạnh phi thường của nhân dân, Tố Hữu càng đặt niềm tin vào một tương lai tươi sáng:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Đem lại cảm xúc trực tiếp từ không khí chiến trường, những đoàn xe vận tải đêm đêm nối đuôi nhau tiếp lương tải đạn để chuẩn bị tổng phản công. Đèn pha bật sáng xua tan màn đêm thăm thẳm tối, xua đi cái giá lạnh của núi rừng đêm khuya. Ánh sáng ấy, tương phản với “nghìn đêm thăm thẳm sương dày”, đã nói lên sự trưởng thành của cuộc kháng chiến. Kháng chiến đã tới ngày thắng lợi, ngày mai tươi sáng sẽ thuộc về ta.

Không phụ công ngày đêm chiến đấu, vượt mọi khó khăn, gian khổ, cuộc kháng chiến chống Pháp cuối cùng đã dành được thắng lợi:

Tin vui chiến thắng trăm miền

Niềm vui chiến thắng lan tỏa, tràn ngập khắp nơi, cán bộ kháng chiến và nhân dân, đặc biệt là người dân Việt Bắc cùng chung niềm vui với niềm vui của đất nước. Giành lại được hòa bình, tự do, đất nước và người dân lại bước vào thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ hơn. Những người cán bộ kháng chiến trở về Thủ đô lại bắt đầu những công việc mới phục vụ đất nước, những người dân Việt Bắc bắt đầu một cuộc sống mới với hòa bình, tự do, tiếp tục lao động, sản xuất góp phần dựng xây, phát triển đất nước. Nhưng mười lăm năm gắn bó kia vẫn sẽ luôn được ghi nhớ, để có những lúc ta sẽ bất chợt nghe thấy một lời gọi thân thương, quen thuộc:

Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.

Quả xứng đáng là đỉnh cao thơ Tố Hữu cũng như đỉnh cao thơ ca thời kì kháng chiến, Việt Bắc với những nghệ thuật đặc sắc và nội dung chạm đến trái tim bạn đọc đã đạt được thành công vang dội trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Bài thơ không chỉ bộc lộ tình cảm của những cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc mà còn khắc họa lại một giai đoạn quân và dân ta đã chiến đấu và chiến thắng bất chấp bao khó khăn, gian khổ. Qua bài thơ, Tố Hữu đã gửi gắm đến bạn đọc thông điệp ý nghĩa về đạo lý sống Uống nước nhớ nguồn có từ ngàn đời của dân tộc.

Hải Anh