Phân tích bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu đạt điểm cao

0

Đề bài: Phân tích bài thơ Vội vàng của nhà thơ Xuân Diệu

Bài làm

Giữa lúc Thơ mới tràn ngập những nỗi buồn, sự tuyệt vọng và cô đơn thì Xuân Diệu với bài thơ Vội vàng như một luồng gió mới đã đem lại một quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mỹ mới mẻ chưa từng có trong thi ca và lúc bấy giờ. Thật xứng với cái danh “một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ mới”, Xuân Diệu là một nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Ở ông, khát khao ấy nồng cháy và mãnh liệt hơn cả, được thể hiện trọn vẹn qua những thi phẩm của mình, đặc biệt là Vội vàng. Bài thơ đã thể hiện một quan niệm sống, quan niệm nhân sinh mới mẻ- quan niệm sống vội vàng, sống hết mình, tận hưởng và tận hiến.

Sự ra đời của Vội vàng nói riêng và tập Thơ thơ (1938) đã khẳng định tên tuổi Xuân Diệu trên văn đàn thời kì trước Cách mạng. Tập thơ được đánh giá là đỉnh cao của phong trào Thơ mới, trong đó Vội vàng là tác phẩm tiêu biểu nhất cho tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng. Bài thơ là một trong số rất nhiều tác phẩm của Xuân Diệu mà ngay từ nhan đề, ta đã thấy sự hăm hở, cuống quýt của một trái tim yêu đời và ham sống.

Bài thơ mở đầu với một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện những ước muốn táo bạo, lạ kì của tác giả:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Sở dĩ nói đây là những ước muốn lạ lùng bởi thử hỏi trên thế gian này, ai có thể tắt nắng đi, ai có thể buộc gió lại? Nhưng Xuân Diệu lại ước muốn những điều đi ngược lại với quy luật tự nhiên, muốn tắt nắng, buộc gió, muốn chi phối, điều khiển cả thiên nhiên. Những câu thơ ngắn, nhịp thơ dồn dập, hối hả tạo cảm giác cuống quýt, vội vàng, bạn đọc có cảm giác dường như có thứ gì đang thúc giục, giục giã nhà thơ khát vọng. Nghệ thuật trùng điệp, lặp từ “cho”, “đừng”, điệp cấu trúc câu “Tôi muốn” cùng những động từ “tắt”, “buộc” được kết hợp sử dụng một cách khéo léo mang đến cho lời thơ sự dõng dạc, hùng hồn, góp phần quan trọng thể hiện khát vọng mãnh liệt mà cũng vô cùng đáng yêu của Xuân Diệu. Chỉ qua bốn câu thơ đầu, nhân vật trữ tình hiện lên với vẻ tự hào đầy kiêu hãnh dám nói lên mong muốn chống lại quy luật tự nhiên, đoạt quyền tạo hóa, thể hiện lòng yêu đời, yêu cuộc sống da diết của mình. Tác giả như muốn níu lại những bước chân vội vã của , muốn lưu giữ lại hương sắc của cuộc sống để tận hưởng. Từ “đừng” được lặp lại hai lần càng bộc lộ rõ hơn sự níu kéo gần như là van nài của một nhà thơ vì quá yêu cuộc sống mà có những ước muốn ngây thơ như đứa trẻ. Ngay ở khổ thơ đầu, ta đã thấy một quan niệm nhân sinh mới mẻ: Cuộc đời là sắc thắm hương nồng, cần biết quý trọng và tận hưởng nó. Xuân Diệu ở khổ thơ trên có thể còn những ước muốn ngây thơ, vô lí vì muốn tận hưởng cuộc sống, nhưng ở khổ thơ này, ông đã nhận ra rằng, vẻ đẹp, hương sắc của cuộc đời ở ngay dưới trần gian, trong hiện tại, ngay bên cạnh ta:

Của ong bướm này đây tuần trăng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si.

Vẻ đẹp của mùa xuân cùng sự mê đắm của tác giả đối với cảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống được bộc lộ rõ nét nhờ nghệ thuật trùng điệp và những câu thơ dài tám tiếng. Điệp cấu trúc câu, điệp từ, đặc biệt là sự lặp lại tới bốn lần “này đây” đã khẳng định được sự tồn tại hoàn toàn chân thực của vẻ đẹp cuộc đời những tưởng chỉ có trong mơ ước của con người, đồng thời cũng như một lời mời gọi mọi người hãy tận hưởng vẻ đẹp kì diệu ấy. Cuộc đời với Xuân Diệu giống như một khu vườn xuân, có hương vị tình yêu ngọt ngào của ong bướm, có màu sắc sặc sỡ, hài hòa của hoa, có sắc xanh tươi non mơn mởn của đồng nội, của cành tơ, có khúc ca si mê, say đắm của yến anh. Tất thảy những điều đó đều được ràng buộc với nhau bằng tình yêu, được thể hiện qua cách nhà thơ dùng từ “của” mang ý nghĩa sở hữu. Cuộc đời đẹp là vậy, ngọt ngào là vậy, nhưng với sự xuất hiện của con người, vẻ đẹp ấy như càng được nâng cao lên, đưa con người trở thành trung tâm của bức tranh mùa xuân tràn đầy sức sống:

Xem thêm:  Theo anh (chị) làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp?

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Là một nhà thơ vô cùng táo bạo, Xuân Diệu dám đưa vào thơ của mình một quan niệm thẩm mỹ hoàn toàn mới mẻ khi không lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp mà thay vào đó là con người. Con người đang ở - tuổi xuân của cuộc đời được nhà thơ coi là thước đo cho cái đẹp. Với hình ảnh so sánh ánh sáng ban mai với ánh mắt của người thiếu nữ, “ánh sáng chớp hàng mi” như tỏa ra muôn vàn ánh sáng đẹp rạng ngời. Đặc biệt, phép so sánh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” đã gợi cho bạn đọc những liên tưởng ấn tượng. Tháng giêng là tháng đầu tiên của một năm, là tháng mở đầu cho một mùa xuân tràn đầy sức sống, cũng là một khái niệm trừu tượng. Với cách so sánh này, nhà thơ đã cụ thể hóa vẻ đẹp của tháng giêng bằng sự quyến rũ đầy tươi trẻ của “cặp môi gần” chín mọng đang đợi chờ của người thiếu nữ. Sự ấm áp từ chữ “gần” hay sự hấp dẫn, quyến rũ của tháng giêng được vật chất hóa qua từ “ngon” đã khẳng định tài hoa của Xuân Diệu trong cách dùng từ đầy tinh tế và khéo léo. Ai đó thấy cuộc đời là vô nghĩa, buồn đau, ai đó cầu xin được chết, Xuân Diệu coi được sống là một niềm vui. Mỗi ngày mới được “thần Vui hằng gõ cửa” đem niềm vui và hạnh phúc đến cuộc đời mỗi chúng ta, mỗi năm lại bắt đầu một nụ hôn mời gọi, quyến rũ của tháng giêng, được đắm mình trong hương sắc ngọt ngào tình yêu của mùa xuân. Niềm hân hoan, tưng bừng đến vậy có lẽ chưa ai có thể có được như Xuân Diệu. Niềm vui đang lên đến đỉnh điểm thì đoạn thơ đột ngột chuyển đổi cảm xúc, người thi sĩ chợt được bước chân nghiệt ngã của thời gian:

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Loading...

Câu thơ được tách thành hai vế, ngăn cách với nhau bằng dấu chấm như một sự chia cắt, khiến cho giọng thơ đứt đoạn, thể hiện sự sững sờ, ngơ ngác của tác giả. Không sững sờ sao được khi đang tận hưởng, chìm đắm trong vẻ đẹp tươi trẻ, tràn đầy sức sống của cuộc đời thì nhà thơ bỗng nhận ra tuổi xuân thật ngắn ngủi, cuộc đời đẹp đẽ này có lẽ sẽ chẳng mấy chốc mà kết thúc. Tuy nhiên, không dễ dàng bỏ cuộc trước thời gian, một tâm hồn khao khát yêu, khao khát sống mãnh liệt như Xuân Diệu chắc chắn sẽ không chịu thụ động mà nhìn thời gian trôi qua, ông muốn chạy đua với thời gian để đoạt lấy sự sống:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

nhà thơ không hoài xuân khi xuân đã tàn, ông biết trân trọng, tận hưởng và thậm chí là nhớ nhung mùa xuân ngay trong chính những ngày xuân còn đang mơn mởn, tràn đầy.

Xem thêm:  Kể lại một lần đi tham quan cùng các bạn trong lớp

Phân tích bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu đạt điểm cao

Phân tích bài thơ Vội vàng

Thời gian luôn trôi đi mà không chờ đợi ai, cảm nhận được sâu sắc cái hữu hạn của mùa xuân, của tuổi trẻ do thời gian ấy, Xuân Diệu càng thêm tiếc nuối, xót xa. Không giống như những nhà thơ trung đại nhìn thời gian như một sự tuần hoàn, hết đêm lại ngày, xuân qua hè lại như một điệp khúc không bao giờ thay đổi, vũ trụ tuần hoàn, cuộc đời con người cũng tuần hoàn, có kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Ở quan niệm ấy, cuộc sống trở nên thật ung dung, thanh thản. Còn Xuân Diệu, do sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân nên ông quan niệm thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, mỗi khoảnh khắc trôi qua rồi sẽ vĩnh viễn trở thành quá khứ, không thể trở lại được:

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.

Với việc dùng các hình ảnh so sánh “xuân đang tới”- “xuân đương qua”, “xuân còn non”- “xuân sẽ già”, nhà thơ đã cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng như thời gian, đồng thời cũng thể hiện sự trôi chảy của nó qua chính những từ “xuân” được lặp đi lặp lại trong đoạn thơ cùng các từ ngừ đối lập, tương phản: “tới”, “qua”, “non”, “già”. Thời gian trôi đi kéo theo tuổi trẻ và cuộc đời cũng mau chóng kết thúc:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, là mùa vạn vật cây cối đâm chồi nảy lộc, mang trong mình một sức sống tràn đầy, mãnh liệt; Tuổi trẻ là lứa tuổi đẹp nhất của đời người, mang đầy những , hoài bão, những khát vọng và tình yêu hết mình, không ngần ngại bất cứ điều gì. Nhưng thời gian tàn nhẫn, mùa xuân thì tồn tại mãi với đất trời, tuần hoàn, lặp đi lặp lại còn tuổi trẻ của mỗi đời người chỉ có một lần, một khi thời gian đã trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại được nữa. Sự có mặt của con người trong sự vô hạn của thời gian trở nên thật ngắn ngủi, con người nhỏ bé ngậm ngùi mà than thở với thiên nhiên, với đời:

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Câu thơ dường như mang lí lẽ, là một lời tranh luận thể hiện quan niệm của tác giả về sự đối lập trong mối quan hệ giữa thời gian với cuộc đời con người nhờ việc sử dụng các quan hệ từ: “nghĩa là”, “còn…sẽ”, “mà…nếu” gắn kết các câu thơ. Yêu đời nhưng lại tiếc đời, hai trạng thái cảm xúc này tưởng chừng như là mâu thuẫn nhưng đặt trong quan niệm của nhà thơ về thời gian và kiếp người, ta mới hiểu được hai mặt đối lặp này trong Xuân Diệu lại mang tính thống nhất. Một con người ham sống, khát khao yêu như ông chắc chắn sẽ không chịu khuất phục trước quy luật nghiệt ngã của thời gian. Từ đó, nhà thơ đã tìm ra một lối thoát có thể giải phóng được tất cả tình yêu cuộc sống cháy bỏng của mình bất chấp những bước đi vô tình của thời gian. Lối thoát đó nằm gọn trong chữ, chính là “Vội vàng”.

Bởi cuộc đời tươi đẹp, kiếp người lại hữu hạn, con người phải chạy đua với thời gian để tận hưởng mọi sắc màu, vẻ đẹp, hương vị của cuộc đời. Câu thơ kết thúc phần hai như một hiệu lệnh:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

thúc giục mọi người hãy chạy đua với thời gian, hãy tận hưởng từng phút giây cuộc đời khi tuổi xuân còn chưa phai tàn. Những cảnh tượng đầy muôn màu, ngọt ngào, đẫm hương sắc của tình yêu ở đoạn thơ đầu được Xuân Diệu khắc họa lại ở những câu thơ cuối. Thiên đường tuyệt diệu ấy hiện lên trước mắt bạn đọc vẫn như thế, tươi đẹp, tràn trề nhựa sống, thúc giục người ta mau mau tận hưởng, đắm chìm vào vẻ đẹp và sự ngọt ngào, mơn mởn của nó trước khi thời gian tàn nhẫn trôi đi. Giữa những câu thơ dài lại xuất hiện một câu thơ ngắn chỉ có ba chữ: “Ta muốn tin” thắt ngang bài thơ vừa như một sự khẳng định vừa gợi liên tưởng đến vòng tay níu giữ sự sống mơn mởn, non tơ của một tâm hồn yêu cuộc sống, khát khao sống và yêu. Từ “tôi”, nhân vật trữ tình đã thay đổi cách xưng hô thành “ta”:

Xem thêm:  Kể chuyện ông Nguyễn Hiền

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

biến mong muốn, khát vọng được chìm đắm vào vẻ đẹp của cuộc sống, tận hưởng tuổi xuân trở thành ước muốn của tất cả mọi người, đặc biệt là những người trẻ vẫn còn cả cuộc đời trước mắt. Nhân vật trữ tình hiện lên trong bài thơ như muốn bứt ra khỏi cái tôi nhỏ bé, trở nên to lớn, sánh ngang trời đất, kiêu hãnh, tự hào, thể hiện khát vọng sống không gì có thể ngăn cản được không chỉ của riêng mình mà còn là của tất cả mọi người. Lặp lại tới năm lần điệp từ “ta muốn”, Xuân Diệu đã thổi vào những vần thơ của mình nhịp điệu hối hả, gấp gáp trước sự trôi chảy của thời gian. Những động từ  mạnh chỉ trạng thái yêu đương được đặt trong mối quan hệ tăng tiến: “ôm”, “hôn”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn” cùng với các từ láy gợi cảm: “chếnh choáng”, “đã đầy”,… đã diễn tả sự thụ hưởng cuộc sống say đắm, nồng nàn, mãnh liệt đến trọn vẹn của thi sĩ. Trái tim Xuân Diệu như muốn mở căng ra để chứa hết vũ trụ, ông trở thành một thi nhân cường tráng, vĩ đại của thiên nhiên. Lặp lại liên tiếp và dường như là thừa thãi các quan hệ từ:

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

tác giả tưởng như đã phạm phải một điều tối kỵ trong thơ bởi nó làm mất đi tính hàm súc vốn là đặc trưng của ngôn ngữ thơ, nhưng thực tế, đây lại chính là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Không chỉ thể hiện được cái khẩu khí rất riêng, rất Xuân Diệu, sự lặp lại ấy còn giúp bạn đọc nhận ra nhịp đập mạnh mẽ, vội vàng của một trái tim yêu cuộc sống mãnh liệt, một khát vọng được hưởng thụ cuộc sống thỏa thuê, trọn vẹn. Sự cuồng nhiệt, say mê nồng cháy ấy được đẩy lên đến đỉnh điểm ở câu thơ cuối cùng kết thúc bài thơ:

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Có lẽ, Xuân Diệu là nhà thơ đầu tiên và duy nhất miêu tả “xuân hồng” như một trái tròn căng, chín mọng, như một người tình hồng hào sắc xuân mà thi sĩ là một tình nhân say đắm. Từ việc cụ thể hóa “xuân hồng”, nhà thơ muốn “cắn” để cảm nhận, chiếm lĩnh đến tuyệt đối tuổi xuân tươi đẹp của cuộc đời. Bạn đọc ấn tượng sâu sắc với cách dùng từ táo bạo, bất ngờ, mang đậm cá tính của Xuân Diệu ngay cả khi đã khép lại trang thơ.

Ai bảo rằng đời là bể khổ? Với Xuân Diệu, đời là hạnh phúc, là niềm vui mà ta phải tận hưởng nó, chìm đắm và say mê nó trong những ngày tháng tuổi xuân còn chưa phai tàn. Với Vội vàng, nhà thơ đã để lại cho bạn đọc một thông điệp cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị của nó, chính là quan niệm sống vội vàng. Khác với sống gấp, một cách sống thực dụng, ích kỉ, sống vội vàng khiến người ta biết tận hưởng và cũng phải tận hiến trong cuộc đời.

Hải Anh