Phân tích hình tượng Sông Đà trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà rất hay

0

Đề bài: Phân tích hình tượng Sông Đà trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà

Bài làm

Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại với sự nghiệp sáng tác chia làm hai giai đoạn. Sau Cách mạng, tác phẩm của ông chủ yếu phản ánh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mà một trong những tác phẩm nổi tiếng và thành công nhất của ông chính là tập tùy bút Sông Đà (1960). Đoạn trích Người lái đò sông Đà trích từ tập tùy bút đã khắc họa hình tượng dòng Sông Đà có đầy đủ những nét tính cách phức tạp, mâu thuẫn, đối lập nhau như một sinh thể có hồn.

Vào những năm 1958-1960, Nguyễn Tuân đã có một chuyến đi thực tế tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi, hùng vĩ. Tùy bút Sông Đà- tập tùy bút ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người Tây Bắc trong chiến đấu và lao động sản xuất ấy- chính là thành quả nghệ thuật của chuyến đi gian khổ mà hào hùng ấy. Nguyễn Tuân gọi đó là “chất vàng mười” của Tây Bắc. Phân tích hình tượng sông Đà, nhà văn đã khắc họa hai nét tính cách đối lập, tương phản rõ rệt của dòng sông: vừa hung bạo vừa trữ tình, lúc thì như kẻ thù của con người, lúc lại dịu dàng, tha thướt như một người tình, một cố nhân.

Dòng Sông Đà hiện lên với nét tính cách hung bạo được ngòi bút của Nguyễn Tuân phác họa ở diện mạo dữ dội và rợn ngợp của nó. Những quãng sông hẹp, đá dựng vách thành, “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” bởi hai bên bờ sông đá dựng đứng như vách thành, cao vút. Có quãng, người ta có thể đứng bên này bờ mà ném hòn đá sang bờ bên kia, hay thậm chí, những con nai, con hổ đã có lần “vọt từ bờ này sang bờ kia”. Phép so sánh độc đáo “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu” đã thể hiện được độ hẹp đến nghẹt thở của vách đá hai bên bờ sông. Nước ở đây chảy xiết nhất là vào mùa lũ, dòng sông quãng này thật âm u, lạnh lẽo. Không chỉ dùng lại ở đó, sự hung bạo của dòng sông Đà còn được đẩy lên cao hơn khi tác giả miêu tả mặt ghềnh Hát Loóng. Với những “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió” trùng trùng điệp điệp sóng nước, Sông Đà hiện lên “cuồn cuộn, gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”. So sánh dòng sông với một kẻ đòi nợ xuýt vô lí, Nguyễn Tuân đã khắc họa Sông Đà trong sự ngang tàn, hung bạo đầy dữ dội. Qua quãng sông này mà không cẩn thận, khinh suất tay lái thì dễ bị lật ngửa bụng thuyền ra. Trên tất cả những hung dữ và nguy hiểm ấy, khủng khiếp hơn cả ở Sông Đà phải kể đến thác nước Sông Đà. Liên tục sử dụng biện pháp tu từ so sánh, đến đây, nhà văn đã so sánh những cái hút nước như “cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, nước “thở và kêu như cái cửa cống bị sặc”, “ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”, khiến người nghe phải rùng mình kinh sợ. Sử dụng những từ ngữ “thở” và “kêu”, nhà văn đã thể hiện hình ảnh những hút nước và dòng sông quãng này trong sự hung bạo, dữ tợn đầy sinh động mà cũng không kém phần khủng khiếp. Con thuyền nào muốn qua những cái hút nước phải đi thật nhanh, nếu không sẽ bị cái hút ấy nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi khoảng mươi phút sa mới thất tan xác ở khuỷnh sông dưới. Mặt sông lừ lừ những cánh quạ tìm ăn xác người, như một sự cảnh báo rợn người về dòng sông dữ dội, nguy hiểm. Liên tưởng tới một anh bạn quay phim nào đó, táo tợn mà ngồi vào cái thuyền thúng trong vành rồi cứ xoay tít mà xuống tận đáy cái hút nước sâu hoắm, Nguyễn Tuân đã mang đến cho bạn đọc những cảm nhận chân thực nhất chỉ qua những câu văn của mình.

Xem thêm:  Phân tích diễn biến tâm trạng và hành động nhân vật Mị trong đâm tình mùa xuân ở Hồng Ngài

Sự hung bạo của Sông Đà không chỉ biểu hiện ở diện mạo mà còn được bộc lộ trong tâm địa dữ dội và nham hiểm của nó. Thác nước Sông Đà chính là một dẫn chứng nổi bật cho tâm địa, tính cách ấy. Từ lúc còn ở phía xa, người ta đã nghe thấy tiếng thác vang dội, mang những xúc cảm rất người: “như là oán trách gì, rồi lại như van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. Thác nước dường như cũng có hồn phách, mang tâm hồn và tâm tính của một con người với những cảm xúc hỗn độn, thống thiết. Có lúc, nó lại rống lên “như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa”. Hình ảnh so sánh này mang một sự độc đáo chưa từng có, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí bạn đọc với sự tài hoa, cá tính của Nguyễn Tuân. Chưa ai và cũng không ai dám miêu tả nước bằng cái đối lập với nó là lửa, miêu tả sông bằng cái đối lập với nó là rừng. Nguyễn Tuân quả đã chơi ngông trong nghệ thuật. Khi đến gần hơn với thác nước, bọt sóng hiện ra trắng xóa cả một chân trời đá, bao la, hùng vĩ khiến con người ta không khỏi cảm thấy choáng ngợp trước cảnh tượng thiên nhiên dữ dội, kì vĩ. Bên cạnh thác nước, đá sông Đà cũng vô cùng nham hiểm, sẵn sàng khiến những người lái đò bỏ mạng nơi dòng sông này bất cứ lúc nào. Đá sông Đà đã có ở đây từ ngàn năm, luôn mai phục dưới lòng sông nư một trận đồ bát quái với nhiều cửa tử, hiếm cửa sinh. Dưới mắt nhìn rất độc đáo, cá tính của nhà văn, đá ở đây có cả nhân hình và nhân tính, lại có cả tướng, cả quân, tên nào tên nấy hung bạo, ngỗ ngược, luôn sẵn sàng giao chiến không chịu thua bất cứ ai. Cái dữ dội ấy còn được tăng thêm gấp bội với sự thanh viện của thác sông Đà, dữ dội, hào hùng lấn át đối phương. Sức mạnh của thác, của đá sông Đà đã được tác giả đẩy lên ngang tầm với sức mạnh của thần linh khi sử dụng cụm “binh pháp của thần sông, thần đá” để miêu tả trậ địa đá. Hung bạo như thế, dữ dội, nham hiểm như thế, chính là Sông Đà hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân. Ngày nay, những người dân Tây Bắc đã chinh phục được dòng sông hung bạo ấy, nhà máy thuỷ điện sông Đà mọc lên như một công trình trị thủy đã khiến sông Đà trở nên hiền hòa, yên ả, thác lũ sông Đà đã trở thành một nguồn điện năng dồi dào- một thứ vàng mười phục vụ nhân dân Tây Bắc.

Loading...

Phân tích hình tượng Sông Đà trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà rất hay

Phân tích hình tượng Sông Đà

Thực ra, ngay cả trong tự nhiên, Sông Đà cũng mang nét tính cách dịu dàng, vẻ đẹp trữ tình, đằm thắm như một người thiếu nữ. Những trang văn Nguyễn Tuân viết về vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà thực sự là những “tờ hoa” bất hủ, thể hiện sự khám phá nghiêm túc và mới lạ về phương diện thẩm mỹ của Nguyễn Tuân. Về dáng vẻ, “Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tấy Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Câu văn dài chỉ có duy nhất một dấu phẩy đã gợi lên trước mắt bạn đọc một dòng sông dài miên man, xuất hiện từ những dãy núi hùng vĩ của biên cương Tây Bắc, chảy xuống đồng bằng, hòa vào sông Hồng rồi đổ ra biển. Hoàn thành một cuộc hành trình dài như thế, dòng sông dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân hiện lên như dài bất tận mà không mất đi vẻ đẹp dịu dàng, nữ tính của nó. Các thanh bằng ở đầu câu văn đã tô đậm thêm sự êm đềm, yên ả, khiến dòng sông càng trở nên thi vị, lãng mạn hơn. Phép so sánh Sông Đà như một áng tóc trữ tình vừa gợi nét mềm mại, duyên dáng của dòng sông nữ tính vừa khắc họa sự hùng vĩ, thơ mộng với mây trời, hoa khói Tây Bắc. Đà giang là một dòng sông đặc biệt, không chỉ bởi hai nét tính cách trái ngược mà còn vì màu sắc của nước sông. Không giống những dòng sông khác, nước sông Đà thay đổi theo mùa, như một người con gái đẹp tiềm ẩn trong mình bao điều bí mật. Mùa xuân, dòng sông xanh màu ngọc bích, sắc xanh trong và tươi như lấp lánh trong sương và ánh mặt trời chứ không “xanh canh hến” như sông Gâm, sông Lô. Thu sang, vẫn dòng sông Đà ấy nhưng lại là một diện mạo mới, một màu sắc mới. Nước sông lúc này “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Từ láy “lừ lừ” gợi hình ảnh dòng sông chở nặng phù sa, chậm rãi trôi mang theo cả nét tính cách dịu dàng, duyên dáng của nó. Không chỉ làm nổi bật lên sắc đỏ độc đáo của nước sông mà phép so sánh màu nước với “da mặt người bầm đi vì rượu bữa” của nhà văn còn bộc lộ được sức mạnh tiềm ẩn chứa đầy đe dọa của Sông Đà, dòng sông “trăm năm báo oán, đời đời đánh ghen”. Mùa hè, dòng sông lóe lên một màu nắng tháng Ba Đường, mang một vẻ đẹp lãng mạn, hư ảo. Dù mỗi mùa, mỗi khoảng thời gian khác nhau, dòng sông lại mang một màu sắc, vẻ đẹp khác nhau nhưng Sông Đà chưa bao giờ có màu đen “như Thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra mà đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu”.

Xem thêm:  Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh viết: "Hỡi đồng bào cả nước... không ai chối cãi dược". Hãy phân tích giá trị nổi bật của đoạn văn trên ở hai phương diện: nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận

Không chỉ dòng sông, nước sông mang vẻ đẹp trữ tình, cảnh vật hai bên bờ Sông Đà cũng khiến Nguyễn Tuân phải trầm trồ chiêm ngưỡng. Nét trữ tình, thi vị nhất của Sông Đà cũng nằm ở chính sắc thái lặng tờ hoang dại của hai bên bờ sông. Đoạn văn mở đầu bằng một câu văn êm ru trong những thanh bằng: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà”, đưa con thuyền chở nhà văn và bạn đọc vào một cõi mơ êm ả. Láy lại hai lần từ “lặng tờ” trong một đoạn văn là dụng ý của Nguyễn Tuân. Bằng cách này, ông đã gián tiếp khẳng định, hình như từ đời Lí, Trần, Lê khúc sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Sự lặng tờ ấy được nhấn mạnh trong cả cái êm ả, yên bình của không gian và cả cái thăm thẳm, xa xăm của thời gian. Ở đây “tịnh không một bóng người”. Nhiều người có thể cảm thấy khó hiểu khi trong đoạn văn, Nguyễn Tuân rõ ràng đã miêu tả tiếng cá đập nước, tiếng cựa mình của những búp cỏ gianh,… vậy tại sao lại cho rằng khúc sông ấy “lặng tờ”? Thực chất ở đây, nhà văn đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Không gian phải yên ắng như thế nào người ta mới có thể nghe thấy “tiếng cá đập nước sông”, tiếng những búp cỏ gianh vươn mình, trổ ra những nõn búp mơn mởn,…? Với những hình ảnh so sánh độc đáo: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, Nguyễn Tuân đã đẩy Sông Đà trôi xa về miền mộng ảo, phiêu diêu trong cõi hồng hoan xa xôi. Cảnh hai bên bờ sông lặng tờ, hoang dại nhưng không khiến người đọc cảm thấy rợn ngợp mà trái lại còn mang nhựa sống tràn trề như bắt đầu một mùa nảy lộc sinh sôi: “Nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, “một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”,… Nhà văn như lạc vào một thế giới trong trẻo, an lành tới mức tưởng như là không có thật đặc biệt với hình ảnh: “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương” “nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành…”. Người và thiên nhiên đã hoàn toàn quấn quýt, hài hòa. Nhà văn gọi Sông Đà là “cố nhân”, một người tình cũ gần yêu xa nhớ, khiến dòng sông hiện lên trong đoạn trích với những vấn vương, Đường thi đầy lãng mạn. Đi rừng nhiều ngày, gặp lại Sông Đà, Nguyễn Tuân không khỏi vui mừng mà thốt lên một tiếng “Chao ôi” chứa đựng biết bao cảm xúc, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Tình cảm dành cho Sông Đà của nhà văn luôn chẳng hề thay đổi dẫu biết dòng sông ấy lắm bệnh cũng nhiều chứng, chốc dịu dàng đấy rồi chốc lại gắt gỏng, thác lũ ngay đấy. Nhìn Sông Đà như một cố nhân, nhà văn đã có những trang văn tuyệt mỹ, chạm đến tâm hồn bạn đọc.

Xem thêm:  Về đoạn trích “Trao duyên” (trích “Truyện Kiều”)

Viết về Sông Đà, tác giả đã thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước trên cả hai bình diện: hùng vĩ và thơ mộng. Từ đó, ta càng hiểu thêm tình yêu quê hương, đất nước tha thiết của nhà văn vốn đã được bạn đọc biết đến qua những tác phẩm ra đời trước Cách mạng thuộc đề tài về chủ nghĩa xê dịch của ông. Sông Đà hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân không chỉ dịu dàng, duyên dáng, trữ tình mà còn hung bạo, dữ dội, tạo nên một nguồn thủy điện vô tận phục vụ nhân dân Tây Bắc. Qua hình tượng Sông Đà, nhà văn đã thể hiện được rõ nét phong cách nghệ thuật “ngông” của mình. Ông thường hướng tới những cái khác thường, phi thường, gây ấn tượng và cảm xúc mãnh liệt cho bạn đọc: Sông Đà ẩn chứa hai nét tính cách đối lập nhau; mọi dòng sông đều đổ ra biển, riêng Sông Đà lại chảy về phía Bắc.

Hình tượng Sông Đà nói riêng và đoạn trích Người lái đò sông Đà nói chung đã khẳng định được tài hoa, uyên bác và phong cách “ngông” trong nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Với những từ ngữ phong phú, độc đáo, những hình ảnh giàu sức liên tưởng, nhà văn đã phải vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau khi miêu tả Sông Đà như địa lý, lịch sử,… để miêu tả chân thực, làm bật lên được cái hồn của dòng sông Đà lúc hung bạo, dữ dội, lúc lại dịu dàng, trữ tình. Một dòng sông như thế thật thích hợp với một Nguyễn Tuân hay tiếp cận sự vật, hiện tượng độc đáo, phi thường.

Hải Anh