Phân tích tám câu đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu đạt điểm cao

0
Loading...
Đánh giá bài viết

Đề bài: Phân tích tám câu đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu

Bài làm

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ, Việt Nam không chỉ dành được độc lập, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà còn làm giàu thêm nền văn học hiện đại với những tác phẩm đặc sắc, ý nghĩa được sáng tác xuyên suốt hai cuộc chiến tranh, bồi dưỡng tâm hồn và ý chí con người. Trong toàn bộ kho tàng văn học ấy, bài thơ Việt Bắc được coi là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, cũng là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà thơ Tố Hữu. Thi phẩm là bản anh hùng ca và cũng là một bản tình ca, thể hiện những nét tiêu biểu nhất trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, đặc biệt là tám câu thơ đầu bài thơ đã khắc họa rõ nét phút chia tay giữa người ra đi- cán bộ kháng chiến và người ở lại- nhân dân Việt Bắc.

Nhan đề bài thơ xuất phát từ tên gọi địa danh đã gắn liền với Cách mạng Việt Nam từ những năm 40 cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp- Việt Bắc. Trong suốt cuộc kháng chiến, nhân dân Việt Bắc đã chở che, đùm bộc cho những cán bộ tham gia chiến đấu, từ đó, tình cảm gắn bó, thân thiết cũng dần hình thành và trở nên bền vững. Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trong thắng lợi của dân tộc, tháng 10 năm 1954, những cán bộ kháng chiến phải trở về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ như một cách thể hiện tình cảm thắm thiết của người ra đi với đất và người Việt Bắc- quê hương Cách mạng. Điểm đặc biệt ở thi phẩm này là cấu tứ, hình thức như lời đối thoại giữa hai nhân vật trữ tình: mình- ta, cán bộ kháng chiến về xuôi và nhân dân Việt Bắc mà thực chất lại chính là lời độc thoại nội tâm nhằm thể hiện tình cảm, khẳng định sự gắn bó, nghĩa tình giữa nhân dân với Cách mạng. Theo mạch cảm xúc ấy, tám câu thơ mở đầu của bài thơ Việt Bắc đã diễn tả cảnh chia tay đầy lưu luyến giữa những cán bộ kháng chiến phải chia tay căn cứ Cách mạng để trở về Thủ đô với nhân dân Việt Bắc. Trong lịch sử văn học Việt Nam không hiếm những tác phẩm viết về đề tài chia tay này từ thời kì trung đại cho đến hiện đại, như đoạn Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều trích Truyện Kiều (Nguyễn Du), Tống biệt hành (Thâm Tâm), Lan và Điệp (Nguyễn Công Hoan),… Đề tài của Việt Bắc cũng là cuộc chia tay, nhưng nếu những tác phẩm kể trên khắc họa cuộc chia tay mang tính cá nhân giữa chồng- vợ, bạn bè thì thơ Tố Hữu, ta lại được chứng kiến một cuộc chia ly đặc biệt giữa cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc. Một cuộc chia ly lớn lao mang ý nghĩa lịch sử.

Đoạn thơ được chia thành hai phần với bốn câu đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi:

– Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Không chỉ trong lời của người ở lại mà còn xuyên suốt bài thơ, cách xưng hô “mình”- “ta” đầy dụng ý của Tố Hữu đã thể hiện tình cảm gắn bó, thân thiết không gì có thể ngăn cách được của người ở lại và người ra đi. Trong tiếng Việt, từ “mình” ngoài cách dùng để chỉ bản thân theo ngôi thứ nhất thì còn có một nghĩa khác theo ngôi thứ hai là chỉ người có sự gắn bó, yêu thương thân thiết như người bạn đời. Ở Việt Bắc, nhà thơ dùng “mình” chủ yếu theo ngôi thứ hai, cùng với “ta” đã diễn tả được trọn vẹn sự gắn bó son sắt, thủy chung, tình nghĩa giữa những cán bộ kháng chiến về xuôi với nhân dân miền sơn cước. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, cán bộ kháng chiến phải rời khỏi núi rừng Tây Bắc, trở về với Thủ đô, với quê hương, cuộc chia ly diễn ra với bao cảm xúc khó nói của người ở lại. Đó là nỗi nhớ mênh mang dồn chứa trong khổ thơ đầu tiên giữa “mình” và “ta” được thể hiện qua điệp từ “nhớ”. Lặp lại từ ngữ bộc lộ cảm xúc này hai lần, mỗi lần lặp, “nhớ” lại mang những sắc thái tình cảm khác nhau. Gắn bó, gần gũi suốt mười lăm năm, nay lại phải nói lời từ biệt, nỗi nhớ dâng lên trong lòng người ở lại trải dài theo thời gian. Một quãng thời gian dài cán bộ và nhân dân Việt Bắc đã có với nhau biết bao kỉ niệm qua từ “ấy” trong cụm “mười lăm năm ấy” lại khiến cho mọi thứ như bị đẩy lùi lại quá khứ, trở nên xa xăm, khiến người ta không khỏi ngậm ngùi, nuối tiếc. Như để khẳng định tình cảm bền vững giữa người ra đi và người ở lại, nhà thơ đã sử dụng “Thiết tha mặn nồng” vốn là cụm từ diễn tả tình cảm của những người yêu nhau. Người ở lại đã dùng những kỉ niệm “thiết tha mặn nồng” để gợi nhớ, níu bước người ra đi. Lúc khó khăn “Thương nhau chia củ sắn lùi- Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, lúc cùng kề vai sát cánh “Nhớ khi giặc đến giặc lùng- Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây”, những lúc cùng chung niềm vui chiến thắng “Tin vui chiến thắng trăm miền- Vui từ Tây Bắc, Điện Biên vui về”. Những kí ức dù gian khổ, khó khăn hay vui vẻ, hạnh phúc đều là những kỉ niệm đẹp không bao giờ phai trong lòng cả người ở lại và người ra đi, để lại trong lòng người nỗi nhớ bao trùm cả chiều rộng không gian trong buổi chia tay đầy luyến tiếc. Không chỉ chứng kiến quá khứ tình nghĩa, gần gũi giữa cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc, cảnh vật nơi núi rừng hùng vĩ, những cây, sông, núi, nguồn đều gắn bó khăng khít với cuộc sống của con người nơi đây và cả những cán bộ kháng chiến về xuôi. Khi người đã về rồi, nhìn cây, nhìn sông, liệu người có còn thủy chung để nhớ núi, nhớ nguồn, nhớ tới những tháng ngày tuy vất vả, khó nhọc mà tràn đầy hạnh phúc, tình yêu thương, sự gắn bó như những người cùng một gia đình? Sự thủy chung, tình nghĩa ấy cũng gợi cho ta nhớ đến đạo lý đã có từ ngàn đời của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”. Tố Hữu đã từng nhắc tới đạo lý truyền thống này trong các tác phẩm khác của mình:

Loading...

Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay

Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ lên

Ân tình sâu nặng của nhân dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến được bộc lộ chân thành nhất qua những câu hỏi tu từ đầy thao thức, trăn trở trong giờ phút chia ly. Tấm chân tình trải suốt chiều dài thời gian và chiều rộng không gian ấy chắc chắn người ra đi sẽ khó có thể quên được.

Phân tích tám câu đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu đạt điểm cao

Phân tích tám câu đầu bài thơ Việt Bắc

Dù còn nhiều điều chưa thể nói hết nhưng cuộc chia ly rồi cũng sẽ đến lúc phải kết thúc. Khổ thơ thứ hai cũng chính là cảnh tiễn đưa đầy lưu luyến giữa người dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến về xuôi:

– Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Không phụ tấm lòng của người ở lại, người ra đi đã cảm nhận và thấu hiểu nỗi nhớ tha thiết của nhân dân Việt Bắc, bâng khuâng, xao xuyến trước tấm chân tình ấy. Bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy điều này qua cách nhà thơ dùng đại từ phiếm chỉ “ai” cùng với các từ láy giàu sức biểu cảm. Trong khi “Bâng khuâng” miêu tả trạng thái cảm xúc buồn tiếc, nhớ nhung thì “bồn chồn” lại là tâm trạng thấp thỏm, nôn nao, khiến con người đứng ngồi không yên. Với nỗi lòng ấy, trên nền núi rừng hùng vĩ của Việt Bắc buổi sớm mai, người ở lại cùng người ra đi nói những lời từ biệt mà không nỡ rời xa nhau. Nổi bật trên nền cảnh giàu xúc cảm ấy là màu áo chàm truyền thống, đặc trưng của những người dân Việt Bắc giản dị, đơn sơ. Màu áo thân thương, trìu mến đã trở nên quen thuộc với những người cán bộ kháng chiến, màu áo chàm ấy đã trở thành biểu tượng của người dân Việt Bắc thuần hậu, chất phác, luôn một lòng hướng về kháng chiến, Cách mạng. Đứng trước hình ảnh thân thương ấy, người ra đi trở nên ngập ngừng, nghẹn ngào. Cảm xúc ấy đã được thể hiện đầy tinh tế qua cách ngắt nhịp 2/1/3 độc đáo. Không chỉ riêng người ra đi, kẻ ở lại cũng nghẹn ngào khó nói trong buổi phân li đầy xúc động ấy. Biết bao tình cảm chan chứa khiến cho cả hai nghẹn lời, “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”. Vào giây phút ấy, có lẽ mọi lời nói đều trở nên thừa thãi, bởi không từ ngữ nào có thể diễn đạt được tâm trạng và cảm xúc của kẻ ở, người đi lúc ấy, chỉ có cái nắm tay tình nghĩa, thủy chung mới có thể truyền cho họ hơi ấm của tình cảm nồng nàn, tha thiết, để họ tin vào nhau, tin vào những tình cảm mà mình đã dành cho đối phương. Cái nắm tay tình nghĩa ấy ta cũng đã từng bắt gặp trong bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu:

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Nhưng không giống với cái nắm tay thắm tình đồng đội ở trên, cái nắm tay trong Việt Bắc là cái nắm tay thắm tình quân dân sâu nặng, nghĩa tình, thủy chung. Chỉ một cái nắm tay thôi nhưng có thể truyền cho nhau cả trái tim lẫn tâm trí. Cảnh chia tay hiện lên trong tám câu thơ đầu không buồn, không đẫm lệ như những cuộc chia tay trong ca dao, văn học cổ, cảnh chia tay trong Việt Bắc thực chất còn ẩn chứa niềm vui, mang không khí của thời đại mới, thời đại của độc lập, tự do bởi đó là cuộc chia tay của những con người vừa làm nên chiến thắng, chia tay để tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước vững mạnh. Chia tay mà vẫn tin tưởng ngày gặp lại.

Việt Bắc là bài thơ hội tụ rất nhiều thành công về mặt nghệ thuật mà tiêu biểu là cách dùng lối hát đối đáp trong ca dao, dân ca với cặp đại từ “mình”- “ta” hay cách sử dụng khéo léo và tinh tế thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc. Chỉ tám câu thơ đầu thôi, bạn đọc đã có thể cảm nhận được những tình cảm sâu nặng, nghĩa tình của người ra đi và người ở lại dành cho nhau trong buổi chia tay đầy luyến tiếc, từ đó ta càng thêm trân trọng tình quân dân gắn bó, bền chặt không chỉ trong chiến tranh mà còn là khi đất nước đã đánh tan quân thù.

Hải Anh