Soạn bài: Ôn tập phần Văn học

0
Loading...
Soạn bài: Ôn tập phần Văn học
Đánh giá bài viết

Soạn bài: Ôn tập phần Văn học

Hướng dẫn

I. NỘI DUNG ÔN TẬP

Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai, phần Văn học Việt Nam gồm những tác phẩm văn học hiện đại thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc các thể loại thơ ca và nghị luận.

Về thơ, chương trình gồm các tác phẩm: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu), Hầu Trời (Tản Đà), Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Chiều tối (Hồ Chí Minh), Từ ấy (Tô Hữu); các bài đọc thêm: Lai Tân (Hồ Chí Minh), Nhớ đồng (Tố Hữu), Tương tư (Nguyễn Bính), Chiều xuân (Anh Thơ). Khi ôn tập các tác phẩm này cần nắm được lí thuyết về thể loại thơ để vận dụng vào việc phân tích các tác phẩm. Cần nắm vững những vấn đề về nội dung và nghệ thuật; nhận ra được nội dung cảm hứng, hình tượng nhân vật trữ tình, phát hiện ra các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi bài thơ.

Về văn nghị luận, sách giáo khoa có trích tuyến để học các trích đoạn: Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh), Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh); bài học thêm: Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh).

Khi ôn tập các tác phẩm này, cần hiểu được sự khác nhau giữa văn hình tượng với văn nghị luận. Văn hình tượng là sản phẩm của tư duy nghệ thuật, nó sáng tạo ra những hình tượng sinh động, đẹp đẽ, trước hết và chủ yếu để chuyển tải tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ. Còn văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, tác động trước hết đến nhận thức lí trí của người đọc. Sức mạnh của văn nghị luận là ở lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, luận cứ xác đáng, đầy thuyết phục.

Tìm hiểu các tác phẩm nghị luận nói trên qua đoạn trích, cần nắm chắc nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các văn bản, cách triển khai lập luận và ngôn ngữ biểu đạt của mỗi tác giả.

Phần văn học nước ngoài gồm: bài thơ Tôi yêu em (Pu-skin), truyện ngắn Người trong bao (Sê-khốp), đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền (trích tiểu thuyết Những người khốn khổ – Huy-gô), tác phẩm nghị luận Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng-ghen); bài đọc thêm: Bài thơ số 28 (Ta-go).

Khi ôn tập các tác phẩm này, ngoài đặc trưng của một tác phẩm nước ngoài học qua bản dịch, cần nắm được những kiến thức cơ bản về tác giả, về nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm.

II. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

Có thể lập đề cương ôn tập theo hệ thống các vấn đề và câu hỏi sau:

1. Thơ mới khác với thơ trung đại như thế nào?

2. Những nội dung cơ bản và đặc điểm nghệ thuật chủ yếu của các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà? Làm rõ tính chất giao thời (giữa văn học trung đại và hiện đại) về nghệ thuật của các tác phẩm nói trên.

3. Qua việc phân tích, so sánh các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà, Vội vàng của Xuân Diệu, hãy làm rõ quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945.

4. Nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tư của Nguyễn Bính, Chiều xuân của Anh Thơ?

5. Tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của các bài thơ Chiều tối, Lai Tân của Hồ Chí Minh, Từ ấy, Nhớ đồng của Tố Hữu?

6. Cái đẹp, cái hay, sức hấp dẫn của bài thơ Tôi yêu em (Pu-skin)?

7. Phân tích hình tượng nhân vật Bê-li-cốp trong truyện ngắn Người trong bao (Sê-khốp).

Loading...

8. Phân tích hình tượng nhân vật Giăng Văn-giăng trong đoạn trích Người cầm quyền khói phục uy quyền (Huy-gô).

Lưu ý: Những tác phẩm khác, anh (chị) dựa vào Hướng dẫn học bài và Hướng dẫn đọc thêm để ôn tập.

1. Phân biệt thơ mới và thơ trung đại

Gợi ý.

Thơ mới khác thơ trung đại ở chỗ được giải phóng thoát ra ngoài tính quy phạm chặt chẽ với hệ thống ước lệ có tính phi ngã, khiến con mắt thi nhân được tiếp xúc trực tiếp với thế giới để quan sát và khám phá (thế giới thiên nhiên, xã hội và thế giới tâm hồn con người. Thơ mới thể hiện mạnh mẽ “cái tôi” cá nhân với những suy nghĩ, những tình cảm, cảm xúc mới mẻ, thanh tân.

2. Những nội dung cơ bản và đặc điểm nghệ thuật chủ yếu của:

– Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu: Tâm thế và tư thế tuyệt đẹp của người anh hùng trong buổi lên đường tìm phương cứu nước.

Cảm xúc trữ tình nồng đậm, giọng thơ tâm huyết sục sôi có sức lôi cuốn mạnh mẽ.

– Bài thơ Hầu Trời của Tản Đà

Kể chuyện “Hầu Trời” tác giả tự biểu hiện “cái tôi” ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời.

– Có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật: thể thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh.

Nhìn chung, ở hai bài thơ vừa nói về mặt nội dung đã có những nét mới nhưng về thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

3. Quá trình hiện đại hóa thơ ca thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 được thể hiện khá rõ qua các bài thơ (Lưu biệt khi xuất dương) của Phan Bội Châu, Hầu Trời của Tản Đà và Vội vàng của Xuân Diệu.

– Giai đoạn đầu (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920) thành tựu quan trọng hơn cả của văn học là thơ ca của các chí sĩ cách mạng tiêu biểu là Phan Bội Châu. Nội dung tư tưởng trong sáng tác của những nhà thơ này đối khác so với thơ ca thế kỉ XIX trước đó nhưng về mặt nghệ thuật vẫn thuộc phạm trù trung đại vì được viết theo phi pháp trung đại. Điều này thể hiện rõ trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu. Trong bài thơ này, vẻ đẹp hào hùng lãng mạn của nhà cách mạng buổi lên đường tìm phương cứu nước là lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai nhưng được thể hiện bằng thi pháp và ngôn ngữ văn học trung đại.

– Giai đoạn hai (khoảng từ 1920 đến 1930): Văn học thời kì này đã đổi mới đạt những thành tựu đáng ghi nhận, đã có tính hiện đại nhưng những yếu tố của thi pháp văn học trung đại vẫn còn khá phổ biến nhất là trong thi ca.

Bài thơ Hầu Trời của Tản Đà thể hiện rõ tính chất vừa nói. Trong bài thơ này, “cái tôi” cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng giá trị đích thực của mình và khao khát tự khẳng định mình đã xuất hiện, ở đây, thi sĩ cũng đã bộc lộ một quan niệm mới mẻ về nghề văn. Cách chia khổ thơ ở đây cũng chưa từng thấy trong thơ ca trung đại. Tuy nhiên, cái tôi cá nhân phóng túng của Tản Đà vẫn còn phảng phất tinh thần cái ngông của các nhà thơ cuối thời trung đại như Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương. Vì vậy bài thơ Hầu Trời vẫn chưa được xem là hiện đại và thơ ca của Tản Đà có thể xem như cái gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: thời trung đại và thời hiện đại.

– Giai đoạn ba (khoảng 1930 đến 1945) nền văn học nước nhà đã hoàn thành quá trình hiện đại hóa. Phong trào thơ mới dấy lên từ năm 1932 được đánh giá là “một cuộc cách mạng trong thơ ca” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Các bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tư của Nguyễn Bính được xem là những thành tựu tiêu biểu thể hiện rõ những đặc trưng của thơ mới. Đây là tiếng nói nghệ thuật của “cái tôi” tự giải phóng, bứt phá khỏi hệ thống ước lệ của thi ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới là nội tâm mình bằng cặp mắt cá nhân xanh non tươi mới, đồng thời cảm thấy bơ vơ, cô đơn trước vũ trụ và con người.

Những câu còn lại học sinh đọc kĩ lại các gợi ý học bài đã có và tự củng cố ôn tập những kiến thức đã học.